- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/HS-ST Ngày 27-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trương Anh Tuấn Các Hội thẩm nhân dân: ông Sùng A Dinh và bà Lò Thị Dậu
- Thư ký phiên tòa: bà Lò Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: ông Lò Văn Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2023/TLST-HS ngày 27/10/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXXST-HS ngày 16/11/2023 đối với bị cáo: Họ và tên: Lò Văn D- Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 20 tháng 8 năm 1989 tại huyện T, tỉnh Điện Biên. Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn P, xã X, huyện T, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lò Văn C (sinh năm 1959) và bà Lò Thị M (sinh năm 1963); Vợ là Cà Thị T (sinh năm 1989); Bị cáo có 03 con; Tiền án: không; Tiền sự: có 01 tiền sự, năm 2020 bị TAND huyện T áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Quyết định số 01/2020/QĐ-TA ngày 09/11/2020 thời hạn 18 tháng, bị cáo chấp hành xong ngày 13/5/2022, chưa được coi là chưa bị xử lý hành chính. Chức vụ đảng, chính quyền: không; Nhân thân: Bị cáo nghiện chất ma túy, bị cáo chưa bị Tòa án nào xét xử. Tạm giữ từ ngày 31/7/2023 đến ngày 09/8/2023, Tạm giam từ ngày 09/8/2023 đến nay. Bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 31/7/2023 bị cáo Lò Văn D đi nhờ xe máy từ thôn P, xã X đến thị trấn T, huyện T; Sau đó bị cáo đi bộ vào Tổ dân phố Q, thị trấn T để tìm mua ma túy sử dụng. Đến bãi đá giữa Tổ dân phố Q bị cáo gặp một người đàn ông dân tộc Mông, bị cáo không biết tên, địa chỉ, bị cáo hỏi và nhờ người này mua giúp 100.000 đồng ma túy, sau khi nhận tiền người đàn ông đó đi vào phía trong tổ dân phố, khoảng 20 phút sau người đàn ông đó quay lại đưa cho bị cáo một gói ma túy được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh, bị cáo nhận và cất giấu gói ma túy vào trong cặp quần, rồi đi bộ về theo đường hướng ra Cây xăng thuộc Bản Sẳng, thị trấn T, khi đi được khoảng 100 mét thì bị Tổ công tác Công an huyện phát hiện, bắt quả tang hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon bên trong có các cục chất bột màu trắng, 01 căn cước công dân.
Hồi 17 giờ 15 phút ngày 31/7/2023, Cơ quan điều tra mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, xác định cục chất bột màu trắng thu giữ của Bị cáo có khối lượng 0,1249 gam.
Kết luận giám định số 1231/KL-PC09 ngày 09/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn D là 0,1249 gam cục chất bột màu trắng. Mẫu cục chất bột màu trắng thu giữ là chất ma túy: Loại Heroine.
Cáo trạng số 37/CT-VKSHTC ngày 26 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo Lò Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại, 01 mảnh nilon và vỏ niêm phong cũ, trả lại bị cáo 01 căn cước công dân và đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố; Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi mua và cất giấu trái phép chất ma túy trong người với mục đích để sử dụng và đã bị Công an phát hiện bắt giữ. Lời khai của Bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến bắt quả tang bị cáo, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả thu giữ vật chứng; biên bản xác định khối lượng và bản Kết luận giám định của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên.
Có đủ cơ sở kết luận, ngày 31/7/2023 bị cáo đã một mình mua được 01 gói ma túy loại Heroine trị giá 100.000 đồng tại tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện T, sau đó bị cáo cất giấu trong người và trên đường đi về đã bị Công an huyện T phát hiện bắt quả tang.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã cố ý mua 0,1249 gam Heroine cất giấu trái phép với mục đích để sử dụng, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội. [2] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện chất ma túy, năm 2020 bị Tòa án nhân dân huyện T áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng tại Quyết định số 01/2020/HSPT ngày 09/11/2020, bị cáo chấp hành xong ngày 13/5/2022, tính đến ngày phạm tội bị cáo chưa được coi là chưa bị xử lý hành chính, nên xác định bị cáo có nhân thân xấu và cần xem xét khi quyết định mức hình phạt.
Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo. [3] Về hình phạt bổ sung:
Căn cứ vào biên bản xác minh tài sản của cơ quan điều tra và qua tranh tụng tại phiên tòa cho thấy, bị cáo không có tài sản gì giá trị; bị cáo không có việc làm và thu nhập thường xuyên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận. [4] Về các vấn đề có liên quan:
Đối với người đàn ông mua hộ ma túy cho bị cáo, quá trình Điều tra và tại phiên tòa không xác định được, nên HĐXX không có cơ sở để xem xét, xử lý. [5] Về vật chứng của vụ án:
- Số ma túy còn lại 0,0679 gam Heroine là vật cấm tàng trữ, 01 mảnh nilon, vỏ niêm phong là vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 căn cước công dân mang tên Lò Văn D cần trả lại cho bị cáo.
[6] Về án phí:
Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo (Giấy chứng nhận số 17/GCN-HN.HCN ngày 12/01/2022 của UBND xã X) nên cần miễn toàn bộ án phí cho bị cáo theo điểm đ khoản 1 điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. [7] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự 1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn D phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự,
Xử phạt bị cáo Lò Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2023. 3. Về vật chứng vụ án:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại có khối lượng 0,0679 gam Heroine, 01 mảnh nilon, 01 vỏ niêm phong.
- Trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân mang tên Lò Văn D.
Số vật chứng trên cơ quan Thi hành án dân sự huyện T đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra Công an huyện và Chi cục thi hành án dân sự huyện T. 4. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án:
Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. 5. Kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/11/2023).
| Nơi nhận: - VKSND huyện T; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Bộ phận hồ sơ NV- CA huyện T; - Coq quan CSĐT- CA huyện T; - Cơ quan THAHS huyện, tỉnh; - TAND tỉnh Điện Biên; - Sở Tư Pháp tỉnh Điện Biên; - THADS huyện T; - Bị cáo; - Lưu HSVA, HSTHA. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trương Anh Tuấn |