- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lộc Văn Tý - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố bị cáo Lộc Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/HS-ST Ngày 01 - 3 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Tuân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Nhạn
Ông Phạm Văn Huy
- Thư ký phiên tòa: Bà Bàn Thị Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quan Sơn, Tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chinh - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2023;
Đối với bị cáo: Lộc Văn T, sinh ngày 23 tháng 6 năm 1985, tại huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Bản N, xã Sơn Đ, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lộc Văn Ọ và bà Vi Thị Th; có vợ là Lộc Thị D và 02 con (Con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2012); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
* Bị hại: Anh Vi Văn B, sinh năm 1968; trú tại: Bản Y, xã Mường M, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
* Người làm chứng:
- Anh Len Văn Th, sinh năm 1985; trú tại: Bản N, xã Sơn Đ, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.
- Anh Ngân Văn M, sinh năm 1972; Trú tại: Bản N, xã Sơn Đ, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 24/8/2022, Lộc Văn T, sinh năm 1985; trú tại bản N, xã Sơn Đ, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa điều khiển xe ô tô tải màu xanh, biển kiểm soát (BKS) của nước CHDCND Lào
ກກ 0084. Ngồi trong cabin xe có anh Len Văn Th, sinh năm 1985 và anh Ngân Văn M, sinh năm 1972; cùng trú tại bản N, xã Sơn Đ, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Trên thùng xe có chở 05 (Năm) con lợn đi từ bản Y, xã Mường M về bản N, xã Sơn Đ, huyện Quan Sơn. Khi đi qua khúc cua đoạn đường liên Bản thuộc bản Y, xã Mường M theo hướng từ bản Y ra Quốc lộ 217 thì Lộc Văn T điều khiển xe đi lấn sang phần đường bên trái theo chiều đi của mình nên đã va chạm với xe mô tô màu xanh dương, nhãn hiệu wave alpha, BKS 36H7-101.38 do anh Vi Văn B, sinh năm 1968; trú tại bản Y, xã Mường M, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa điều khiển đi theo hướng ngược chiều với xe ô tô tải của T đang di chuyển. Hậu quả làm anh Vi Văn B bị thương, phải đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa huyện Quan Sơn và Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Quan Sơn tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện thể hiện:
Hiện trường nơi xảy ra vụ việc được xác định là tại đoạn đường liên bản, thuộc địa phận bản Y, xã Mường M, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa, có đặc điểm là một đoạn đường cua, lòng đường rộng 4,2 mét, được trải nhựa, không có vạch phân chia làn đường.
- Điểm mốc: Lấy đầu dấu vết loang axit có tọa độ 20014’31”B 1040 44’37”Đ (Ký hiệu: A)
- Mép chuẩn: Lấy mép đường bên trái theo chiều Bản Yên, Mường Mìn ra đường Quốc lộ 217 (Ký hiệu: B).
- Vết 1: Vết loang axit có kích thước 1350cm x 28cm, đầu vết cách B về hướng Tây Bắc là 120cm, điểm cuối vết trùng với trục banh sau bên trái của xe ô tô biển kiểm soát Lào:
ກກ 0084. Vết có chiều hướng Bắc – Nam.
- Vết 2: Các vụn vỡ thủy tinh kích thước 10cm x 12cm, tâm vết cách đầu vết 1 về hướng Đông Nam là 120cm, cách B về hướng Tây Bắc là 90cm.
- Vết 3: Vết dầu loang màu đen kích thước 39cm x 17cm, vết 3 cách vết 2 về hướng Đồng Bắc là 20cm, vết 3 cách B về hướng Tây Bắc là 80cm. Bề mặt vết 3 bám dính chất màu đen.
- Vết 4 : Các bộ phận xe bao gồm cụm gương xe, bàn để chân, thanh sắt có kích thước 180cm x 170cm các vết này nằm rải rác trên mép đường chuẩn B.
- Vết 5 : Vết máu kích thước 25cm x 5cm vết (5) cách vết (4) về hướng Đông Nam là 200cm, vết 5 cách B về hướng Đông là 80cm.
- Vết 6: Ô tô biển kiểm soát Lào:
ກກ 0084, đầu xe hướng đi đường QL217, đuôi xe hướng đi Bản Y, Mường M, trục trước và trục sau bên trái xe cách B về hướng Tây lần lượt là 305cm – 300cm.
* Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông và Kết luận giám định dấu vết cơ học:
- Dấu vết trên phương tiện xe ô tô biển kiểm soát Lào số
ກກ 0084:
+ Mặt ngoài bên trái ốp nhựa mặt nạ đầu xe, mặt ngoài bên trái cửa lên xuống có vết tỳ trượt làm bong tróc sơn màu xanh kích thước 90cm x 10cm. Vết có chiều từ trước về sau. Hiện tại vết cao so với mặt đất 95cm - 85cm.
+ Mặt trước ngoài thanh kim loại bảo vệ thành thùng xe bên trái có vết tỳ trượt làm móp méo kim loại kích thước 17cm x 5cm. Vết có chiều từ trước về sau. Bề mặt vết bám dính chất màu nâu đỏ (nghi máu). Vết cao so với mặt đất là 101cm – 106cm.
+ Góc dưới phía trước bên trái bình ác quy có vết cà làm sạch bụi đất rách vỡ nhựa kích thước 13cm x 9cm, vết có chiều từ trước về sau. Hiện tại vết cao so với mặt đất là 36cm – 45cm.
+ Mặt ngoài bên trái hàng lốp đầu xe tương ứng hàng chữ “JASII”có vết tỳ trượt làm sạch cao su kích thước 14cm x 7cm, vết có chiều từ ngoài vào tâm ngược chiều chuyển động tiến.
- Dấu vết trên phương tiện xe mô tô BKS: 36H7 – 101.38:
+ Mặt trước ngoài núm tay nắm bên trái đầu xe có vết tỳ trượt kích thước 2cm x 2,5cm; Vết có chiều từ trước về sau, bề mặt vết bám dính chất màu xanh dạng sơn. Hiện tại vết cao so với mặt đất là 92cm.
+ Gương chiếu hậu bên trái tuột rời khỏi vụ trí cố định.
+ Mặt trước trên chắn bùn trước có vết cà làm xước sơn màu xanh kích thước 13cm x 10cm. Vết có chiều từ trước về sau.
+ Mặt trước ngoài cánh yếm bên trái xe có các vết cà trượt, tỳ trượt làm xước sơn màu xanh kích thước 20cm x 18cm, vết có chiều từ trước về sau.
+ Giá để chân trước bên trái tuột rời, bàn đạp sang số, giá để chân trước bên trái cong vênh gập từ trước về sau.
- Kết luận giám định dấu vết cơ học:
Căn cứ bản Kết luận giám định số: 3593/KL-KTHS ngày 20/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa đối với vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 24/8/2022 tại Bản Y, xã Mường M, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa, kết quả giám định như sau:
+ Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt ngoài bên trái ốp nhựa mặt nạ đầu xe, mặt ngoài bên trái cửa lên xuống xe ô tô BKS:
ກກ 0084 với mặt trước ngoài núm tay nắm bên trái xe mô tô BKS: 36H7 – 101.38.
+ Tại thời điểm va chạm hai phương tiện chuyển động ngược chiều nhau.
+ Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết (1,2,3), được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, thuộc phần đường bên phải theo hướng từ Quốc lộ 217 đi bản Y, xã Mường M.
+ Không đủ cơ sở xác định vận tốc chuyển động của hai phương tiện tại thời điểm va chạm.
* Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể anh Vi Văn B thể hiện các dấu vết gồm:
- 01 Vết rách da đã liền sẹo kích thước 4cm x 0,2cm tại vùng giữa trán;
- Các vết rách da liền sẹo (Đã được rút chỉ khâu) kích thước trong diện 22cn x 7cm tại vùng trước ngực;
- Vết xây xước da đã liền sẹo không rõ hình kích thước 4cm x 4,5cm tại mặt trước 1/3 trên cánh tay trái.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 926/2022/TTPY, ngày 06/10/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận: Tại thời điểm giám định pháp y về thương tích: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Vi Văn B được tính theo phương pháp xác định tỷ lệ phần trăn tổn thương cơ thể (Cộng theo phương pháp xác định tỉ lệ phần trăm TTCT quy định tại Điều 4 – Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế) là 64% (Sáu mươi tư phần trăm).
Sau khi gây ra tai nạn, Lộc Văn T đã chủ động thăm hỏi và tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho gia đình anh Vi Văn B số tiền 85.000.000đ (Tám mươi lăm triệu đồng). Anh B đã nhận đủ tiền, không yêu cầu bồi thường gì thêm và đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Lộc Văn T.
Đối với chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát Lào số
ກກ 0084 được Lộc Văn T mua của anh Lương Văn Lê, sinh năm 1984, cư trú tại bản Ban, xã Sơn Điện, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa, anh Lê mua chiếc xe này từ một người không rõ tên, tuổi, địa chỉ. Xe có đặc điểm là xe không đủ điều kiện an toàn kỹ thuật để tham gia giao thông, không có đăng ký theo quy định, có số máy là SS-044778, số khung bị mờ không xác định được nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Quan Sơn đã nhập vào kho vật chứng. Hiện tại đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Sơn để chờ xử lý theo quy định. Tại phiên tòa, bị cáo không xin nhận lại mà đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với chiếc xe mô tô màu xanh dương, nhãn hiệu Wave alpha, BKS: 36H7-101.38 cùng các giấy tờ, tài liệu gồm: 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 36000390, có biển số đăng ký: 36H7- 101.38; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe mô tô xe máy và 01 (một) Giấy phép lái xe số 170160012453, hạng A1, các giấy tờ trên đều mang tên Vi Văn B nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Quan Sơn đã trả lại xe cùng các giấy tờ liên quan cho anh B là chủ sở hữu hợp pháp theo quy định.
Tại bản cáo trạng số: 01/CT-VKSQS ngày 18/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Sơn đã truy tố bị cáo Lộc Văn T về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa hôm nay, Lộc Văn T khai nhận hành vi của mình đúng như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 của BLHS tuyên bố bị cáo Lộc Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Xử phạt Lộc Văn T mức án là từ 30 đến 36 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (Một) xe tải biển kiểm soát Lào số
ກກ 0084, số máy SS-044778, số khung không xác định. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí HSST.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì; Lời nói sau cùng, bị cáo nhận tội, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, biên bản xem xét dấu vết trên thân thể, kết luận giám định dấu vết cơ học của vụ tai nạn, tóm tắt bệnh án, kết luận giám định pháp y về thương tích, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. HĐXX đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 24/8/2022. Lộc Văn T, SN 1985 điều khiển xe loại ô tô tải, màu xanh dương, mang BKS:
ກກ 0084, không đảm bảo an toàn kỹ thuật để chở lợn, khi đi đến khúc cua của đoạn đường liên bản thuộc địa phận bản Y, xã Mường M, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa thì đi lấn sang phần đường của xe đi ngược chiều, gây ra tai nạn giao thông cho anh Vi Văn B, với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 64% (Sáu mươi tư phần trăm). Khi điều khiển xe ô tô tải mang BKS:
ກກ 0084 tham gia giao thông thì Lộc Văn T không có giấy phép lái xe theo quy định và biết rõ xe ô tô tải mang BKS:
ກກ 0084 không đảm bảo tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật nhưng vẫn điều khiển để tham gia giao thông. Hành vi nêu trên của Lộc Văn T đã vi phạm các quy định của Luật giao thông đường bộ là “Không đi đúng phần đường bên phải theo chiều xe chạy của mình” được quy định tại khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 17 của Luật Giao thông đường bộ. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho sức khỏe của người khác. Do đó, hành vi của bị cáo Lộc Văn T đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của BLHS. Cáo trạng của VKSND huyện Quan Sơn truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX nhận thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây nên hậu quả là thương tật đối với người khác, đồng thời gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông. Bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định; xe không đủ không đủ điều kiện an toàn kỹ thuật để tham gia giao thông nhưng với ý thức chủ quan nên đã điều khiển xe ô tô tham gia giao thông và gây hậu quả, xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Hành vi đó phải được xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa chung.
Về Nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS): Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, bị hại xin giảm nhẹ TNHS cho bị cáo; được chính quyền địa phương xác nhận luôn chấp hành tốt các quy định của pháp luật cũng như nghĩa vụ của công dân nơi cư trú. Ngoài ra, Lộc Văn T có bố đẻ là ông Lộc Văn Ọ, là người có công với cách mạng, từng tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước và bị nhiễm chất độc hóa học, được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS.
Về trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân tốt, không có tiền án, tiền sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS; phạm tội với lỗi vô ý; được bị hại xin giảm nhẹ TNHS; mặt khác, bị cáo có lý lịch rõ ràng và có nơi cư trú ổn định, đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, không có biểu hiện vi phạm pháp luật, xét thấy không cần thiết phải cách ly ra ngoài đời sống xã hội mà giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú quản lý, giáo dục cũng đủ điều kiện để bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong phần trách nhiệm dân sự, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, việc thỏa thuận giữa các bên là tự nguyện nên HĐXX không xem xét.
Về vật chứng vụ án:
Đối với chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát Lào số
ກກ 0084 của Lộc Văn T là xe không đủ điều kiện an toàn kỹ thuật để tham gia giao thông, không có đăng ký theo quy định, có số máy SS-044778, số khung bị mờ không xác định được. Bị cáo không nhận lại mà đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Do đó, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; Điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 65 của BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 và danh mục án phí, lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên bố bị cáo Lộc Văn T phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
* Xử phạt bị cáo Lộc Văn T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lộc Văn T cho UBND xã Sơn Đ, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
* Về vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (Một) xe tải biển kiểm soát Lào số
ກກ 0084, số máy SS-044778, số khung không xác định. Xe đã qua sử dụng, không có giấy tờ liên quan.
(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa, theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/12/2022).
* Về án phí: Bị cáo Lộc Văn T phải chịu án phí HSST là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
* Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Quan Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Quan Sơn; - Cơ quan THAHS Công an huyện Quan Sơn; - Chi cục THADS huyện Quan Sơn; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Minh Tuân |