vanban.org

Bản án 03/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 11/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H (tên gọi khác: Đỗ Minh H) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2/ Tuyên phạt bị cáo Đỗ Văn H (Đỗ Minh H) 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/11/2021. 3/ Về vật chứng vụ án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn H bị truy tố về tội mua bán ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H (tên gọi khác: Đỗ Minh H) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ TÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2023/HS-ST
Ngày 11 - 01 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Lê Hoàng Điệt.

2/ Ông Lý Thanh Chiều.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Liệt, Kiểm Sát viên.

Trong ngày 11 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2022/TLST-HS, ngày 30 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Đỗ Văn H, sinh ngày 23/8/1999, tại huyện MT, tỉnh Sóc Trăng; Tên gọi khác: Đỗ Minh H. Nơi cư trú: Ấp MTh, thị trấn HHN, huyện MT, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: Lớp 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn L và bà Châu Thị T; Anh, chị, em ruột: Có 02 người (bị cáo nhỏ nhất).

Tiền án: Không có.

Tiền sự: Có 01 tiền sự về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” ngày 15/7/2021 bị Công an thị trấn HHN xử phạt hành chính số tiền 700.000 đồng, đã chấp hành xong ngày 30/8/2021.

Nhân thân: Vào ngày 13/9/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tuyên phạt 03 năm 06 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 05/01/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tuyên phạt 02 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tổng hợp hình phạt 02 bản án trên là 05 năm 06 tháng tù giam, chấp hành xong ngày 22/01/2020. Chấp hành xong tiền án phí vào năm 2017.

Bị khởi tố ngày 08/11/2021 và bị tạm giữ từ ngày 05/11/2021 đến ngày 08/11/2021 áp dụng biện pháp ngăn chặn“Tạm giam” cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lương Thị Ngọc H1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Anh Mã Thanh T1, sinh năm 1990. (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp ML, xã M, huyện MT, tỉnh Sóc Trăng.

2/ Anh Trần Anh Q, sinh năm 1987. (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp N, thị trấn HHN, huyện MT, tỉnh Sóc Trăng.

3/ Anh Lê Thái A, sinh năm 2001. (Có mặt)

Nơi cư trú: Ấp MB, xã M, huyện MT, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 20 phút, ngày 05/11/2021, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại khu vực ấp ML, thị trấn HHN, huyện MT, tỉnh Sóc Trăng có hai đối tượng nghi vấn mua bán trái phép chất ma túy, lãnh đạo Công an huyện MT phân công 01 tổ công tác kết hợp Công an thị trấn HHN tiến hành kiểm tra bắt quả tang bị cáo Đỗ Văn H có hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho đối tượng Mã Thanh T1 (sinh năm: 1990, nơi cư trú: ấp ML, xã M, huyện MT, Sóc Trăng). Kiểm tra trên người của Mã Thanh T1 phát hiện 01 (một) gói nylon màu trắng có chứa tinh thể rắn màu trắng được quấn băng keo màu xanh nghi là ma túy đá được niêm phong (ký hiệu 02), tiền Việt Nam 139.000đồng (Một trăm ba mươi chín nghìn đồng). Kiểm tra trên người bị cáo Đỗ Văn H, phát hiện bên trong cái bóp của bị cáo có 01 (một) bịch nylon màu trắng có chứa tinh thể chất rắn màu trắng nghi là ma túy đá đã được niêm phong (ký hiệu 01), tiền Việt Nam 2.625.000 đồng (Hai triệu, sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Hành vi của bị cáo Đỗ Văn H và Mã Thanh T1 đã được lực lượng Công an tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang. Tổ công tác tiến hành khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của bị cáo, qua khám xét phát hiện 01 (một) túi nylon màu trắng được hàn kín bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy đá, 01 (một) túi nylon một đầu kẹp có viền màu đỏ được kẹp kín bên trong có tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy đá đã được niêm phong (ký hiệu 03). Việc khám xét cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện MT đã tiến hành lập biên bản và thu giữ những đồ vật, tài liệu có liên quan.

Tại Bản kết luận giám định số 175/GĐMT-PC09 ngày 12/11/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận như sau:

+ Gói 01 Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1915 gam, loại Methamphetamine;

+ Gói 02: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1549 gam, loại Methamphetamine;

+ Gói 03: Mẫu tinh thể rắn mẫu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,6436 gam, loại Methamphetamine.

Qua quá trình điều tra bị cáo H còn thừa nhận ngoài việc bán ma túy cho Mã Thanh T1 thì bị cáo còn bán ma túy cho Lê Thái A, sinh năm 2001, Nơi cư trú: ấp MB, xã M, huyện MT, tỉnh Sóc Trăng, bán 01 lần (một tép ma túy) với số tiền là 300.000 đồng; bán cho Trần Anh Q, sinh năm 1987, Nơi cư trú: ấp N, thị trấn HHN, huyện MT, tỉnh Sóc Trăng, bán 01 lần (một tép ma túy) với số tiền 300.000 đồng; bán cho đối tượng tên L nhà ở nhà Thờ nhỏ (xã M) bán 01 lần (một tép ma túy) với số tiền 300.000 đồng. Ngoài ra bị cáo còn bán cho một số đối tượng khác nhưng không rõ địa chỉ cụ thể. Đối với các đối tượng mua ma túy của bị cáo gồm: Anh Trần Anh Qu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Tú đã ra quyết định xử phạt hành chính với số tiền là 750.000 đồng. Riêng đối tượng Lê Thái A đang chấp hành án về tội trộm cắp tài sản.

Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Tú đã tạm giữ:

- 01 (một) phong bì màu trắng được đánh số 01, bên trong là 01 (một) túi nylon màu trắng có chứa tinh thể rắn màu trắng được hàn kín, qua giám định là ma túy.

- 01 (một) phong bì màu trắng được đánh số 02, bên trong là 01 (một) túi nylon bên ngoài có quấn băng keo màu xanh có chứa tinh thể rắn màu trắng được hàn kín, qua giám định là ma túy.

- 01 (một) phong bì màu trắng được đánh số 03, bên trong là 01 (một) túi nylon màu trắng có chứa tinh thể rắn màu trắng được hàn kín, 01 (một) túi nylon một đầu kẹp có viền màu đỏ được kẹp kín, qua giám định là ma túy.

- 01 (một) phong bì màu trắng bên trong có chứa: 01 (một) đoạn ống hút được cắt nhọn một đầu dùng để chiết ma túy; 01 (một) ống nỏ dùng để hút ma túy; 02 (hai) bật lửa (loại gas).

- Tiền Việt Nam: 2.625.000 đồng (thu trên người bị cáo Đỗ Văn H); 139.000 đồng (thu trên người Mã Thanh T1);

- 01 (một) điện thoại di động hiệu VSMART màu đen, số sim: 0352457002 (Thu của bị cáo Đỗ Văn H).

- 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen loại phím (Thu của Mã Thanh T1).

- 01 (một) xe mô tô BKS: 67B2-337.30; màu: trắng + đen; loại xe hai bánh: hiệu SUZUKI; Nhãn hiệu: RAIDER; số máy: CGA1515692 (Thu của bị cáo Đỗ Văn H);

- 01 (Một) xe mô tô BKS: 65-256-TC, Màu: đỏ, nhãn hiệu: Honda (Thu của Mã Thanh T1).

Tại Cáo trạng số 14B/CT-VKSMT, ngày 28/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú để xét xử bị cáo Đỗ Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như cáo trạng đã nêu. Sau khi luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 38, Điều 50; điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015, tuyên phạt bị cáo Đỗ Văn H với mức án từ 07 năm đến 08 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

* Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì màu trắng được đánh số 01, bên trong là 01 (một) túi nylon màu trắng có chứa tinh thể rắn màu trắng được hàn kín, qua giám định là ma túy.

- 01 (một) phong bì màu trắng được đánh số 02, bên trong là 01 (một) túi nylon bên ngoài có quấn băng keo màu xanh có chứa tinh thể rắn màu trắng được hàn kín, qua giám định là ma túy.

- 01 (một) phong bì màu trắng được đánh số 03, bên trong là 01 (một) túi nylon màu trắng có chứa tinh thể rắn màu trắng được hàn kín, 01 (một) túi nylon một đầu kẹp có viền màu đỏ được kẹp kín, qua giám định là ma túy.

- 01 (một) phong bì màu trắng bên trong có chứa: 01 (một) đoạn ống hút được cắt nhọn một đầu dùng để chiết ma túy; 01 (một) ống nỏ dùng để hút ma túy; 02 (hai) bật lửa (loại gas).

* Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu VSMART màu đen, số sim: 0352457002 và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) số tiền Mã Thanh T1 mua ma túy của Đỗ Văn H.

Đối với số tiền 139.000 đồng (Một trăm ba mươi chín nghìn đồng) và 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen (loại phím) của Mã Thanh T1, do hành vi của Mã Thanh T1 đã được tách ra thành vụ án khác nên đề nghị tiếp tục giao cho Cơ quan thi hành án quản lý số tài sản này để phục vụ cho việc điều tra.

Về trách nhiệm dân sự: Không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Tại bản luận cứ của bà Lương Thị Ngọc H – Trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo trình bày: Thống nhất với cáo trạng của đại diện viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, khi luận tội đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm về hoàn cảnh gia đình của bị cáo, bị cáo thiếu sự định hướng của gia đình để được học hành trở thành người có nhân cách tốt nên dễ bị đối tượng xấu dụ dỗ lôi kéo vào con đường ma túy. Ngoài ra, quá trình điều tra bị cáo đã tự khai ra các lần mua bán ma túy cho các đối tượng khác nên thuộc trường hợp người phạm tội tự thú theo điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, do bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 xét xử bị cáo dưới khung hình phạt.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú đã truy tố. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm về đoàn tụ và chăm sóc cha đã lớn tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Mã Thanh T1, anh Trần Anh Qu vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của những người này không gây cản trở cho việc xét xử, nên HĐXX căn cứ vào khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người này.

Trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo bà Lương Thị Ngọc H vắng mặt và có đơn xin hoãn phiên tòa nhưng tại phiên tòa bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt bà Lương Thị Ngọc H nên HĐXX căn cứ vào khoản 1 Điều 291 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 xét xử vắng mặt bà Lương Thị Ngọc H.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công huyện Mỹ tú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Mỹ Tú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Riêng đối với đối tượng Mã Thanh T1 có dấu hiệu phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, Cơ quan điều tra Công an huyện Mỹ Tú đã khởi tố vụ án nhưng do hiện nay Mã Thanh T1 không có mặt ở địa phương nên ngày 24/11/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mỹ Tú đã ra Quyết định số 01/QĐ-CQCSĐT tách vụ án hình sự đối với hành vi tàng trữ trái phép ma túy của đối tượng Mã Thanh T1 ra thành vụ án khác, khi nào Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Mỹ Tú xác minh làm rõ được sẽ xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu. Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản ảnh vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Tại Bản kết luận giám định số 175/GĐMT-PC09 ngày 12/11/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận như sau:

+ Gói 01 Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1915 gam, loại Methamphetamine;

+ Gói 02: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1549 gam, loại Methamphetamine;

+ Gói 03: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,6436 gam, loại Methamphetamine.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ số ma túy trên bị cáo dùng vào mục đích mua bán cho người khác để kiếm lời. Bị cáo thừa nhận ngoài việc bán ma túy cho Mã Thanh T1 thì bị cáo còn bán ma túy cho Lê Thái A 01 lần (một tép ma túy) với số tiền là 300.000 đồng; bán cho Trần Anh Qu 01 lần (một tép ma túy) với số tiền 300.000 đồng; bán cho đối tượng tên L nhà ở nhà Thờ nhỏ (xã M) bán 01 lần (một tép ma túy) với số tiền 300.000 đồng. Ngoài ra, bị cáo còn bán cho một số đối tượng khác nhưng không rõ địa chỉ cụ thể. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Đỗ Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội nhiều lần” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS năm 2015. Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Xét thấy, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền trong việc quản lý các chất ma túy của Nhà nước, đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh, bình thường của đời sống xã hội, ngoài ra việc sử dụng ma túy đá còn là hệ lụy dẫn đến một số hành vi phạm tội khác mà hậu quả xảy ra là rất nghiêm trọng. Do đó, cần xử phạt bị cáo với hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian, mới có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách hiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy chưa được xóa. Ngoài ra, vào ngày 13/9/2016 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tuyên phạt 03 năm 06 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 05/01/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tuyên phạt 02 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tổng hợp hình phạt 02 bản án trên là 05 năm 06 tháng tù giam, chấp hành xong ngày 22/01/2020 và chấp hành xong tiền án phí vào năm 2017 đến ngày phạm tội thì đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại Điều 107 Bộ luật hình sự 2015.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; trong quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận ra các hành vi bán ma túy cho các đối tượng như Lê Thái , Trần Anh Qu, đây được xem là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Do bị cáo có nhân thân xấu, hiện nay bị cáo còn 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy chưa được xóa. Đồng thời, hiện nay các tội phạm ma túy đang có chiều hướng gia tăng, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng trong đời sống xã hội nên Hội đồng xét xử nghỉ cần phải xét xử nghiêm đối với bị cáo nhằm thể hiện tính răn đe của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 xét xử bị cáo dưới khung hình phạt như lời đề nghị trong bản luận cứ của trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trình bày bị cáo thuộc đối tượng thường xuyên nghiện ma túy, có nhân thân xấu, bị cáo 02 lần bị xét xử về các tội liên quan đến ma túy và có 01 tiền sự về việc sử dụng trái phép chất ma túy chưa được xóa, đồng thời theo chủ trương của Đảng, Nhà nước thì cần xử lý nghiêm đối với các tội phạm về ma túy nên đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 07 năm đến 08 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền Việt Nam: 2.325.000 đồng (thu trên người Đỗ Văn H), Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú đã ra Quyết định trao trả cho chủ sở hữu nên HĐXX không đặt ra xem xét. Đối với số tiền 139.000 đồng và 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen (loại phím) của Mã Thanh T1 thì do hành vi của Mã Thanh T1 đã được tách ra thành vụ án khác nên tiếp tục giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú quản lý số tài sản này để phục vụ cho việc điều tra.

- Đối với 01 (một) xe mô tô BKS: 67B2-337.30; màu: trắng + đen; loại xe hai bánh: hiệu SUZUKI; Nhãn hiệu: RAIDER; số máy: CGA1515692 đã trả cho chủ sở hữu nên không đặt ra xem xét.

- Đối với 01 (Một) xe mô tô BKS: 65-256-TC, Màu: đỏ, nhãn hiệu: Honda đã xử lý giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[7.2] Đối với các vật chứng còn lại: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

* Tịch thu tiêu hủy

+ (01) Một phong bì màu trắng bên trong có chứa mẫu tinh thể rắn màu trắng qua kết luận giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng sau khi giám định là 0,1828 gam.

+ (01) Một phong bì màu trắng bên trong có chứa mẫu tinh thể rắn màu trắng qua kết luận giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng sau khi giám định là 0,1421 gam.

+ (01) Một phong bì màu trắng bên trong có chứa mẫu tinh thể rắn màu trắng qua kết luận giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng sau khi giám định là 1,6031 gam.

+ 01 (một) phong bì màu trắng bên trong có chứa: 01 (một) đoạn ống hút được cắt nhọn một đầu dùng để chiết ma túy; 01 (một) ống nỏ dùng để hút ma túy; 02 (hai) bật lửa (loại gas).

* Tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước:

- Số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) của đối tượng Mã Thanh T1 mua ma túy của Đỗ Văn H.

-01 (một) điện thoại di động hiệu VSMART màu đen, số sim: 0352457002.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tuy nhiên do bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn nộp tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Lời đề nghị của Trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo nêu trong Bản luận cứ là có căn cứ chấp nhận một phần như đã phân tích trên.

Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú về mức hình phạt và xử lý vật chứng nêu trong phần nội dung vụ án là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 38; khoản 1 Điều 47; Điều 50; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 106; khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H (tên gọi khác: Đỗ Minh H) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2/ Tuyên phạt bị cáo Đỗ Văn H (Đỗ Minh H) 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/11/2021.

3/ Về vật chứng vụ án:

3.1/ Tịch thu tiêu hủy:

- (01) Một phong bì màu trắng bên trong có chứa mẫu tinh thể rắn màu trắng qua kết luận giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng sau khi giám định là 0,1828 gam.

- (01) Một phong bì màu trắng bên trong có chứa mẫu tinh thể rắn màu trắng qua kết luận giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng sau khi giám định là 0,1421 gam.

- (01) Một phong bì màu trắng bên trong có chứa mẫu tinh thể rắn màu trắng qua kết luận giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng sau khi giám định là 1,6031 gam.

- 01 (một) phong bì màu trắng bên trong có chứa: 01 (một) đoạn ống hút được cắt nhọn một đầu dùng để chiết ma túy; 01 (một) ống nỏ dùng để hút ma túy; 02 (hai) bật lửa (loại gas).

3.2/ Tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước:

- Số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) của đối tượng Mã Thanh T1 mua ma túy của Đỗ Văn H và một điện thoại di động hiệu VSMART màu đen, số sim: 0352457002.

3.3/ Đối với số tiền 139.000 đồng (Một trăm ba mươi chín nghìn đồng) và 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen (loại phím) thu của Mã Thanh T1 tiếp tục giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh sóc Trăng quản lý để phục vụ cho việc điều tra.

4/ Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đỗ Văn H được miễn nộp toàn bộ tiền án phí.

5/ Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Thái A có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Nơi nhận:

Cỡ chữ