vanban.org

Bản án 03/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An Tuyên án 24/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HU ỆN MỘC H A
T NH ONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2023/HS-ST
Ngày: 24-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA N NH N D N HU ỆN MỘC H A T NH ONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ng Nguyễn Văn Khởi.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Mai

ng Nguyễn Ngọc Như

- Thư ký phiên tòa: ng Nguyễn Văn Thành, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An.

- i di n i n ki m sát nh n d n huy n Mộc Hóa, t nh ong n tham gia phiên tòa: ng Đặng Quốc Toàn, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 2 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST-HS ngày 6 tháng 3 năm 2023, đối với:

Bị cáo Phạm L T, sinh năm: 1999.

Hộ khẩu thường trú: xã L K, huyện C Đ, tỉnh Long An; Chổ ở hiện nay: xã L K, huyện C Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông P T N, sinh năm: 1969 và bà N T A, sinh năm: 1971; Anh, chị, em ruột 01 người sinh năm 1991; bị cáo chưa có vợ.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo P L T bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/11/2022 cho đến nay.

Người bị hại: Ông T H T, sinh năm: 1985; Địa chỉ: Phường C P A, thành phố C Đ, tỉnh An Giang. (Chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại là ông T H T, sinh năm: 1987; Địa chỉ: Phường C P A, thành phố C Đ, tỉnh An Giang.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

Ông P T N, sinh năm: 1969; Địa chỉ: Xã L K, huyện C Đ, tỉnh Long An. (có mặt)

Người làm chứng:

Bà Đ T T, sinh năm: 2004; Địa chỉ: Xã P L, huyện B L, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ N:

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 20 phút, ngày 22/10/2022 Phạm L T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 62A-219.33 lưu thông trên tuyến Quốc lộ 62 hướng từ thị xã Kiến Tường đi huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An, trên xe chở theo Đ T T, sinh năm: 2004 và Đ T T N, sinh năm: 2012 cùng ngụ: ấp 3B , xã Phước Lợi, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Khi đến đoạn km 53+50 thuộc ấp 5, xã T L huyện Mộc Hoá, tỉnh Long An do thiếu chú ý quan sát trong lúc điều khiển phương tiện nên T đã điều khiển xe đụng từ phía sau xe đạp do anh T H T, sinh năm: 1985, ngụ: Phường C P A, thành phố C Đ, tỉnh An Giang điều khiển đang lưu thông phía trước cùng chiều. Hậu quả: Anh T H T tử vong tại hiện trường, xe ô tô và xe đạp bị hư hỏng nặng. Sau khi gây ra tai nạn, T không dừng lại mà điều khiển xe đi về nhà tại ấp 3, xã L K, huyện C Đ, tỉnh Long An. Đến ngày 23/10/2022, lực lượng Công an truy tìm mời T làm việc, T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường lúc 20 giờ 00 phút, ngày 22/10/2022 thể hiện: Hiện trường xảy ra tai nạn giao thông nằm trên đoạn đường thẳng, mặt đường rộng 08 mét, tầm nhìn thoáng, tổ chức giao thông hai chiều, giữa mặt đường có vạch kẽ nét đứt chia mặt đường thành hai phần bằng nhau. Chọn trụ Km53+110 tại mép bên trái đường hướng thị xã Kiến Tường đi huyện Tân Thạnh làm điểm mốc chuẩn, chọn mép đường bên phải hướng thị xã Kiến Tường đi huyện Tân Thạnh làm mép đường chuẩn để đo các dấu vết tại hiện trường. Các mãnh vỡ chi tiết của hai phương tiện đều nằm trên phần đường bên phải; bắt đầu hiện trường là một mãnh nhựa màu trắng kích thước 0,65m x 0,03m không rõ hình dạng nằm cách lề chuẩn 0,65m; nạn nhân T H T nằm ngữa ngoài mép đường chuẩn, đầu hướng thị xã Kiến Tường, chân hướng ngược lại, đầu nạn nhân cách mép đường chuẩn 0,40m, điểm cuối chân trái cách mép đường chuẩn 0,20m; xe đạp ngã sang trái nằm ngoài mép đường chuẩn, đầu xe hướng huyện Tân Thạnh, đuôi xe hướng ngược lại, tâm trục bánh xe trước cách mép đường chuẩn 2,15m, tâm trục bánh xe sau cách mép đường chuẩn 1,65m; tại hiện trường phát hiện 01 mãnh nhựa trong suốt không rõ hình dạng, kích thước 0,185m x 0,35m, trên mãnh vỡ có ghi chữ VETC số 02699511 nằm cách lề chuẩn 0,60m.

Kết quả khám nghiệm phương tiện xe đạp thể hiện: Cong lệch tay cần điều khiển hướng từ phải qua trái; hỏng yên ngồi trước; cong biến dạng yên ngồi phía sau từ trên xuống; cong biến dạng chắn bùn sau từ sau lên trước, sang trái; cong vành bánh xe sau sang trái; cong lệch gác chân sau sang trái; cong phần căm xe phía sau sang trái; cong lệch gác chân sau bên trái hướng từ sau lên sang trái; gãy mất một phần ốp bảo vệ xích xe.

Kết quả khám nghiệm phương tiện xe ô tô biển kiểm soát 62A – 219.33 thể hiện: Kính chắn gió phía trước tại góc bên phải phía dưới (bên phụ) có dấu vết nứt, vỡ mặt kính hướng lực tác động từ ngoài vào trong, vùng nứt vỡ dạng hình tròn lan tỏa ra xung quanh, rộng nhất 65cm, dài nhất 140cm, tâm vùng vỡ cách cạnh phải của kính 06cm, cách cạnh dưới của kính 7cm; cụm phía trước bên phải (gồm đèn chiếu sáng và đèn cản) bị vỡ hoàn toàn; cản trước bên phải bị bung và bể biến dạng lõm vào trong hướng từ trước ra sau và từ ngoài vào kích thước 44cn x 10cm.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 998/TT ngày 04/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Long An đã kết luận nguyên nhân tử vong của nạn nhân T H T là do đa chấn thương.

Tại Công văn số 1065/VETC-DVKH ngày 02/11/2022 của Công ty trách nhiệm hữu hạn thu phí tự động VETC thể hiện xe ô tô dán thẻ VETC số 02699511 mang biển kiểm soát 62A-219.33, phương tiện đăng ký dịch vụ thu phí tự động VETC ngày 30/8/2022, chủ T khoản VETC đứng tên P L T, sinh ngày 23/10/1999, địa chỉ: xã L K, huyện C Đ, tỉnh Long An.

Từ kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định, lời khai của những người tham gia tố tụng cùng T liệu thu thập được, xác định nguyên nhân của vụ tai nạn giao thông đường bộ là do P L T điều khiển phương tiện tham gia giao thông thiếu chú ý quan sát đụng từ phía sau đến vào xe đạp do T H T điều khiển đang lưu thông cùng chiều phía trước xe do T điều khiển.

Các phương tiện, đồ vật tạm giữ gồm: 03 mãnh nhựa màu trắng trong suốt không rõ hình dạng có kích thước lần lượt 0,65m x 0,03m, 0,07m x 0,085m, 0,06m x 0,04m; 02 mãnh nhựa màu đen không rõ hình dạng có kích thước lần lượt 0,010m x 0,15m, 0,10m x 0,03m; 01 mãnh nhựa trong suốt không rõ hình dạng, kích thước 0,185m x 0,35m, trên mãnh vỡ có ghi chữ VETC số 02699511; 01 mắt kính; 01 xe đạp; 01 xe ô tô biển kiểm soát 62A-219.33; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 62000446 mang tên P T N, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật số 2263456; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe ô tô số 0060157; 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số 790180246265 mang tên Phạm L T.

Hiện Cơ quan điều tra đã trả lại xong T sản cho chủ sở hữu hợp pháp là ông P T N, sinh năm: 1969, ngụ: xã L K, huyện C Đ, tỉnh Long An gồm 01 xe ô tô biển kiểm soát 62A-219.33; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 62000446 mang tên P T N, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật số 2263456; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe ô tô số 0060157; 03 mãnh nhựa màu trắng trong suốt không rõ hình dạng có kích thước lần lượt 0,65m x 0,03m, 0,07m x 0,085m, 0,06m x 0,04m; 02 mãnh nhựa màu đen không rõ hình dạng có kích thước lần lượt 0,010m x 0,15m, 0,10m x 0,03m; 01 mãnh nhựa trong suốt không rõ hình dạng, kích thước 0,185m x 0,35m, trên mãnh vỡ có ghi chữ VETC số 02699511. Đồng thời trả lại xong 01 mắt kính và 01 xe đạp là T sản của bị hại cho đại diện hợp pháp của bị hại là ông T H T, sinh năm: 1987, ngụ: Phường C P A, thành phố C Đ, tỉnh An Giang.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị cáo và đại diện bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong 260.000.000 đồng khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại. ng T H T là đại diện hợp pháp cho bị hại đã nhận đủ tiền, không yêu cầu bị can bồi thường gì thêm, đồng thời có đơn yêu cầu giảm nhẹ hình phạt đối với bị can.

Với hành vi như trên,Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An đã truy tố bị cáo Phạm L T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An trình bày lời luận tội: giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại Điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo không có tiền án, tiền sự, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn không yêu cầu xử lý đối với bị cáo, bị cáo là người trực tiếp thờ cúng liệt sỹ nên được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với người bị hại và xã hội, sau khi nêu lên những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị: Tuyên bố bị cáo P L T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ”; p dụng điểm c khoản 2 Điều 260; Điểm b,s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 65, của Bộ luật hình sự:

Đề nghị xử phạt bị cáo P L T từ: 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 5 năm.

p dụng Khoản 6 Điều 260 đề nghị xử phạt bổ sung cấm bị cáo P L T lái xê ô tô trong thời hạn 01 năm.

Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại tại phiên Tòa đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: 03 mãnh nhựa màu trắng trong suốt không rõ hình dạng có kích thước lần lượt 0,65m x 0,03m, 0,07m x 0,085m, 0,06m x 0,04m; 02 mãnh nhựa màu đen không rõ hình dạng có kích thước lần lượt 0,010m x 0,15m, 0,10m x 0,03m; 01 mãnh nhựa trong suốt không rõ hình dạng, kích thước 0,185m x 0,35m, trên mãnh vỡ có ghi chữ VETC số 02699511; 01 mắt kính; 01 xe đạp; 01 xe ô tô biển kiểm soát 62A-219.33; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 62000446 mang tên P T N, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật số 2263456; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe ô tô số 0060157; 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số 790180246265 mang tên P L T.

Hiện Cơ quan điều tra đã trả lại xong T sản cho chủ sở hữu hợp pháp là ông P T N, sinh năm: 1969, ngụ: xã L K, huyện C Đ, tỉnh Long An gồm 01 xe ô tô biển kiểm soát 62A-219.33; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 62000446 mang tên P T N, 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật số 2263456; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe ô tô số 0060157; 03 mãnh nhựa màu trắng trong suốt không rõ hình dạng có kích thước lần lượt 0,65m x 0,03m, 0,07m x 0,085m, 0,06m x 0,04m; 02 mãnh nhựa màu đen không rõ hình dạng có kích thước lần lượt 0,010m x 0,15m, 0,10m x 0,03m; 01 mãnh nhựa trong suốt không rõ hình dạng, kích thước 0,185m x 0,35m, trên mãnh vỡ có ghi chữ VETC số 02699511. Đồng thời trả lại xong 01 mắt kính và 01 xe đạp là T sản của bị hại cho đại diện hợp pháp của bị hại là ông T H T, sinh năm: 1987, ngụ: Phường C P A, thành phố C Đ, tỉnh An Giang.

Tiếp tục tạm giữ giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số 790180246265mang tên P L T để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo P L T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Hóa đã truy tố cũng như lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bị cáo bị truy tố tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là không oan, không sai. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện làm phụ giúp gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Sự thừa nhận của bị cáo P L T tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp với lời khai của người đại diện bị hại, phù hợp với vật chứng thu giữ được và các T liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như sau: Vào khoảng 19 giờ 20 phút, ngày 22/10/2022 2022 P L T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 62A-219.33 lưu thông trên tuyến Quốc lộ 62 hướng từ thị xã Kiến Tường đi huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An. Khi đến đoạn km 53+50 thuộc ấp 5, xã Tân Lập huyện Mộc Hoá, tỉnh Long An do thiếu chú ý quan sát trong lúc điều khiển phương tiện, T đã điều khiển xe đụng từ phía sau đến vào xe đạp do anh T H T điều khiển đang lưu thông phía trước cùng chiều với xe do T điều khiển làm anh Tân tử vong. Sau khi xảy ra tai nạn, T không dừng phương tiện lại mà điều khiển xe rời khỏi hiện trường đi về nhà đến khi lực lượng chức năng mời làm việc thì thừa nhận hành vi đã gây ra.

Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Hóa truy tố bị cáo P L T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về lỗi lầm của mình và tự nguyện bồi thường để khắc phục hậu quả cho bị hại là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo không có tiền án, tiền sự, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn không yêu cầu xử lý đối với bị cáo,bị cáo là người trực tiếp thờ cúng liệt sỹ. Nên được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát khi lượng hình.

[4] Căn cứ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp tinh mạng của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần phải tuyên phạt một mức án phù hợp để giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội. Tuy nhiên, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, lần đầu tiên phạm tội, chưa từng có tiền án, tiền sự, lao động chính trong gia đình. Do đó cần xem xét chiếu cố khi lượng hình nên không cần cách ly bị cáo mà chỉ cần xử giao bị cáo Phạm L T cho Ủy ban nhân dân xã L K, huyện C Đ, tỉnh Long An giám sát và giáo dục bị cáo là phù hợp

Đối với Đ T T và Đ T T N là những người đi cùng trên phương tiện do bị can T điều khiển. Tuy nhiên, tại thời điểm xảy ra tai nạn, Th và N đang ngủ không hay biết sự việc và không được T kể lại trên đoạn đường về nhà nên việc Cơ quan điều tra không xem xét hành vi của Th và N trong vụ án này là có cơ sở.

[5] Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại tại phiên Tòa đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm nên không đề cập giải quyết.

[6] Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 6 Điều 260 BLHS cấm bị cáo Phạm L T lái xe ôtô trong thời hạn 01 năm kể từ ngày tuyên án.

[7] Về xử lý vật chứng: Tiếp tục tạm giữ giấy phép lái xe của bị cáo cho đến khi hết thời gian cấm lái xe ôtô của bị cáo

[8] Về án phí : Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người đại diện người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QU ẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 260, 326 và 327 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

Tuyên bố: Bị cáo Ph L T phạm tội: “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Căn cứ điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo P L T 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. về tội: “ Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo P L T cho Ủy ban nhân xã L K, huyện C Đ, tỉnh Long An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 6 Điều 260 BLHS cấm bị cáo P L T lái xe ôtô trong thời hạn 01 năm kể từ ngày tuyên án

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện cho bị hại ông T H T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về vật chứng: Tiếp tục tạm giữ giấy phép lái xe của bị cáo cho đến khi hết thời gian cấm lái xe ôtô của bị cáo

Về án phí: p dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố Tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo P L T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp N sách nhà nước.

n xử sơ thẩm, bị cáo và, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đại diện người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo qui định.

Cỡ chữ