- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân Bắc - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự - Tịch thu
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/HS-ST Ngày 16/01/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH - TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Nga
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Trung Thành
Bà Trần Thị Kim Khuyên
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thúy Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 99/2022/TLST – HS ngày ngày 30 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Xuân B, sinh ngày: 15/7/1973; tại tỉnh P;
Nơi ĐKHKTT: Khu X, xã Đ, huyện C, tỉnh P; nơi cư trú: Thôn N, xã X, huyện L, tỉnh V; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Nguyễn Văn T (đã chết); mẹ đẻ: Hà Thị D (đã chết); vợ: Trần Thị H; con: có 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/10/2022, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt;
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị H, sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn N, xã X, huyện L, tỉnh V (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 21/10/2022, Nguyễn Xuân B một mình điều khiển xe máy biển kiểm soát 88D1-25400, mục đích đi tìm mua ma tuý sử dụng cho bản thân. Khi B đến khu vực ngã ba thôn Vọng Sơn, xã Triệu Đề, huyện Lập Thạch thì gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi địa chỉ cụ thể và mua của người này 01 gói ma tuý Heroine với giá 200.000đ. Sau đó, B cất gói ma tuý vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, cầm ở tay trái và đi tìm mua xi lanh để sử dụng. Khoảng 12 giờ 30’ cùng ngày khi B đi đến hiệu thuốc Duy Hưng thuộc thôn Vọng Sơn, xã Triệu Đề thì bị lực lượng Công an huyện Lập Thạch phát hiện, bắt quả tang, thu giữ: tại lòng bàn tay trái B đang cầm 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, bên trong có 01 gói được bọc bên ngoài bằng giấy màu trắng, bên trong có chất cục bột màu nâu trắng – niêm phong ký hiệu A1 và một số vật chứng khác.
Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đã tiến hành trưng cầu Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định chất ma túy đối với mẫu A1 thu giữ được của Nguyễn Xuân B. Ngày 25/10/2022 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có Văn bản số 3204/KLGĐ - KTHS kết luận:
“Chất bột, cục màu nâu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2160g, loại Heroine”.
Đối với đối tượng bán ma tuý cho B do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
* Đối với vật chứng thu giữ:
- Mẫu vật A1 = 0,2160g ma tuý Heroine, cơ quan giám định hoàn lại = 0,1918g cùng toàn bộ bao gói là vật nhà nước cấm lưu hành.
- 01 xe máy Biển kiểm soát 88D1-25400 là tài sản của chị Trần Thị H cho B mượn, không biết B sử dụng xe vào mục đích đi mua ma túy để sử dụng. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị H.
Tại bản cáo trạng số: 06/CT-VKS ngày 28 tháng 12 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch truy tố Nguyễn Xuân B về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch luận tội đối với bị cáo Nguyễn Xuân B; giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Sau khi đánh giḠtính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng vụ án; bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, bị cáo rất hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lập Thạch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Xuân B đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai, bản kiểm điểm của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 21/10/2022, tại thôn Vọng Sơn, xã Triệu Đề, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, bị cáo Nguyễn Xuân B đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma tuý Heroine khối lượng 0,2160g, mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện Lập Thạch bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Xuân B đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” , tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều luật quy định:
“ 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...c) Heroine,...có khối lượng từ 0.1 gam đến dưới 5 gam”
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; gây mất trật tự trị an ở địa phương; gây dư luận xấu trong nhân dân. Bên cạnh đó, bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng, gây nghiện cho bản thân và kéo theo là các hậu quả xấu cho sức khỏe bản thân, kinh tế gia đình sa sút và ảnh hưởng đến xã hội, hơn nữa ma túy là nguồn gốc nảy sinh các loại tội phạm khác như trộm cắp, cướp giật v.v... Do vậy, phải đưa ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật và có hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo và cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian, như vậy mới có tác dụng cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: Qua xem xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo thấy rằng, bị cáo là người nghiện ma túy; công ăn việc làm và thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị lớn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Mẫu vật A1 = 0,2160g ma tuý Heroine, cơ quan giám định hoàn lại = 0,1918g cùng toàn bộ bao gói là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.
- 01 xe máy biển kiểm soát 88D1-25400 là tài sản của chị Trần Thị H cho bị cáo mượn, chị H không biết bị cáo sử dụng xe vào mục đích đi mua ma túy để sử dụng nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị H là đúng chủ sở hữu cần xác nhận.
Đối với đối tượng bán ma tuý cho bị cáo, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ để xử lý là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 21/10/2022).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
- Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật A1 cơ quan giám định hoàn lại là 0,1918g cùng toàn bộ bao gói
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/01/2023).
- Xác nhận Cơ quan điều tra Công an huyện Lập Thạch đã trả lại cho chị Trần Thị H 01 xe máy biển kiểm soát 88D1-25400 là đúng chủ sở hữu.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện Lập Thạch; - Chi cục THADS Lập Thạch; - Công an huyện Lập Thạch; - Sở Tư pháp Vĩnh Phúc; - UBND xã X; - Bị cáo, người có QLNVLQ; - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Lê Thị Nga |