vanban.org

Bản án 03/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng Tuyên án 05/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Duy H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Duy Hóa 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 7 năm 2022. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự phạt bổ sung bị cáo Lê Duy H số tiền 10.000.000đ (mươi triệu đồng) nộp vào Ngân sách Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Duy Hóa - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Duy H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 251 Bộ luật hình sự phạt tiền; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒA VANG
THANH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2023/HS-ST
Ngày 05 tháng 01 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Nam Hưng

2. Bà Phan Thị Tuyền

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Trương Công Hòa - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 ngày 01 tháng 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 111/2022/TLST-HS ngày 01/12/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2022/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Duy H, tên gọi khác: không; sinh ngày: 29/8/1988; tại tỉnh Quảng Nam; Nơi cư trú: Thôn Triêm Trung 1, xã Điện Phương, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; Trình độ văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Văn C (SN 1963) và bà Huỳnh Thị A (SN 1965); Gia đình có 03 anh em, bị can là con thứ 02, Sống chung như vợ chồng với chị Đỗ Thị Tr (SN 1999), có 02 con chung( lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2022).

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 12/6/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam xử phạt 12 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích.

- Ngày 12/01/2011, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản.

- Ngày 04/12/2018, bị Công an thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam xử phạt 2.000.000 đồng do có hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29 tháng 7 năm 2022 (có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Trần Anh T, sinh năm 2001; trú tại: Thôn Túy Loan Tây, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).

+ Ông Đồng Nguyễn Tuấn V, sinh năm 1993; trú tại: Thôn Phú Hòa 1, xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biễn tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 00’ ngày 28/7/2022, Lê Duy H đi bộ đến khu vực cầu Câu Lâu thuộc xã Điện Phương, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam tìm gặp một đối tượng tên Mập (không xác định lai lịch) mua 01 gói ma túy với giá 2.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, H cất gói ma túy trong túi quần rồi đi bộ ra khu vực bãi đất trống gần đó sử dụng một ít ma túy vừa mua được. Sau đó, H điện thoại cho Đỗ Thị Tr (sinh năm: 1999, trú tại: Thôn Dương Lâm 2, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng) để nhờ Tr chở về.

Đến khoảng 23 giờ 00’ cùng ngày, trong lúc H và chị Tr đang trên đường về thì Trần Anh T (tên gọi khác: Trắng, sinh năm: 2001, trú tại: Thôn Túy Loan Tây, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng) điện thoại hỏi mua 300.000 đồng ma túy thì H đồng ý và hẹn T đến khu vực hẻm bên cạnh nhà chị Tr để bán. Khi đến nhà, H lấy gói ma túy vừa mua được chia thành 02 gói, bán cho T 01 gói. Khoảng 05 phút sau, T đến điểm hẹn đưa cho H số tiền 290.000 đồng nợ số tiền 10.000 đồng rồi H bán cho T 01 gói ma túy. Sau khi vừa bán ma túy xong, trong lúc H ngồi trước nhà thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa Vang bắt quả tang Lê Duy H đang có hành vi tàng trữ 01 gói ma túy để bán cho người khác.

Qua làm việc, Lê Duy H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và khai ra những lần bán ma túy trước đó, cụ thể:

Lần 01: Khoảng trưa ngày 26/7/2022, tại thôn Dương Lâm 2, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng, H bán 01 gói ma túy cho Đồng Nguyễn Tuấn V (sinh năm: 1993, trú tại: thôn Phú Hòa 1, xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng) với giá 200.000 đồng.

Lần 02: Khoảng trưa ngày 28/7/2022, tại thôn Dương Lâm 2, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng H bán cho 01 gói ma túy cho Trần Anh T với giá 200.000 đồng [BL: 06-07; 24-27; 33-39; 46-52; 82-109].

Tại kết luận giám định số: 157/KLMT-KTHS ngày 03/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: tinh thể màu trắng trong gói ni long gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng tinh thể: 0,228 gam [BL: 17]

Tang vật tạm giữ:

- 01 gói nilông bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng; 01 điện thoại Iphone 7plus màu trắng gắn sim số 0937865286; 01 hộp giấy màu đen; Số tiền 290.000 đồng [BL: 06-07].

* Tại bản cáo trạng số 108/CT-VKSNDHV ngày 29/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng đã truy tố Lê Duy H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Duy H về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo Lê Duy H. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

+ Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Duy H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"

+ Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Lê Duy H từ 09 (chín) năm đến 10 (mười) năm tù.

+ Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoàn 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự phạt bổ sung bị cáo Lê Duy H từ 10.000.000đ đến 20.000.000đ.

+ Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điểu 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,159 gam mẫu ma túy hoàn lại sau giám định, 01 hộp giấy màu đen; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 7plus màu trắng gắn sim số 0937865286 và số tiền 290.000 đồng.

Vật chứng trên hiện nay do Chi cục Thi hành án dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ.

- Tại phiên tòa bị cáo Lê Duy H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa Vang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra, xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Duy H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:

Bị cáo Lê Duy H là người nghiện ma túy, để có tiền mua ma túy về sử dụng và tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã nhiều lần mua ma túy rồi về chia nhỏ bán cho các đối tượng nghiện trên địa bàn huyện Hòa Vang để kiếm lời. Cụ thể, khoảng 23 giờ 25’ ngày 28/7/2022, trong lúc Lê Duy H đang ngồi trước nhà tại thôn Dương Lâm 2, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa Vang phát hiện bắt quả tang Lê Duy H có hành vi tàng trữ 01 gói ma túy loại Methamphetamine có khối lượng là 0,228 gam để bán cho người khác. Ngoài ra, từ ngày 26-28/7/2022, Lê Duy H đã 03 lần bán trái phép chất ma túy cho Trần Anh T và Đồng Nguyễn Tuấn V tại thôn Dương Lâm 2, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng.

Tại kết luận giám định số: 157/KLMT-KTHS ngày 03 tháng 8 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: tinh thể màu trắng trong gói ni long gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng tinh thể: 0,228 gam.

Như vậy, lời khai thừa nhận của bị cáo Lê Duy H tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Duy H đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Bị cáo Lê Duy H nhận thức rõ được những tác hại của ma túy, tuy nhiên vì lười lao động, muốn có ma túy để sử dụng và muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho các đối tượng nghiện trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự độc quyền trong việc quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hành vi mua bán trái phép các chất ma túy của các bị cáo được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 07 đến 15 năm tù, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng.

Bản thân bị cáo Lê Duy H có nhân thân xấu, từ năm 2008 đến năm 2018 bị cáo đã 3 lần bị đưa ra xét xử và xử phạt hành chính về hành vi cố ý gây thương tích và cướp tài sản, sau khi chấp hành xong các hình phạt trở về địa phương bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi trái pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải có một mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội cũng là bài học giáo dục răn đe đấu tranh phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn; tự thú về hành vi phạm tội trước nên đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy ngoài hình phạt chính là phạt tù đối với các bị cáo, thì cần áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Do đó áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự phạt tiền bị cáo với số tiền 10.000.000đ nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với 0,159 gam mẫu ma túy hoàn lại sau giám định và toàn bộ gói được niêm phong có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng (theo kết luận giám định số 157/GĐ-MT ngày 03 tháng 8 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng); 01 (một) hộp giấy màu đen đây là vật chứng của vụ án và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động Iphone 7Plus màu trắng gắn sim số 0937865286, số imei: 35669608606297 (không kiểm tra chất lượng), bị cáo dùng để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy, do đó cần tịch thu bán hóa giá nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Toàn bộ vật chứng trên hiện nay do Chi cục Thi hành án dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 12 năm 2022.

- Đối với số tiền 290.000đ (hai trăm chín mươi nghìn đồng) là tiền có được từ việc bán ma túy của bị cáo Lê Duy H, do đó cần tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Số tiền này hiện đang được lưu giữ tại kho bạc Nhà nước huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng theo số tài khoản 3941.0.1046443.00000 của Phòng tài chính – KH Hòa Vang.

Ngoài ra trong vụ án còn có:

- Về nguồn gốc ma túy, bị can Lê Duy H khai nhận mua của đối tượng tên Mập (hiện chưa xác định lai lịch) tại khu vực cầu Câu Lâu thuộc xã Điện Phương, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Quá trình điều tra không xác định được đối tượng tên Mập như khai nhận của bị can. Do đó, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xử lý sau là có căn cứ.

- Đối với Đồng Nguyễn Tuấn V và Trần Anh T là những người đã liên hệ với Lê Duy Hóa để mua ma túy. Quá trình điều tra xác định V, T có liên hệ, mua ma túy của H về để sử dụng cho bản thân và đã sử dụng hết. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với V, T là có căn cứ.

- Đối với Đỗ Thị Tr là người sống chung như vợ chồng với Lê Duy H. Quá trình điều tra xác định việc Lê Duy H mua ma túy của người khác rồi phân chia thành các gói nhỏ sau đó đem bán cho các con nghiện thì Tr hoàn toàn không biết. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

- Đối với các số điện thoại 0937865286 của bị can Hoá, 0905062451 của Trần Anh T và 0796522028 của Đồng Nguyễn Tuấn V sử dụng dùng để liên hệ giao dịch mua bán ma túy. Cơ quan điều tra đã gửi Công văn yêu cầu Tổng công ty Mobifone cung cấp thông tin chủ thuê bao và thông tin cuộc gọi đi đến các số điện thoại nêu trên nhưng chưa có kết quả. Khi nào có kết quả Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xử lý sau là có căn cứ.

Về án phí HSST: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Duy H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Duy Hóa 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 7 năm 2022.

2. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự phạt bổ sung bị cáo Lê Duy H số tiền 10.000.000đ (mươi triệu đồng) nộp vào Ngân sách Nhà nước.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch Thu tiêu hủy 0,159 gam mẫu ma túy hoàn lại sau giám định và toàn bộ gói được niêm phong có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng (theo kết luận giám định số 157/GĐ-MT ngày 03/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng) và 01 (một) hộp giấy màu đen.

- Tịch thu bán hóa giá nộp vào Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động Iphone 7Plus màu trắng gắn sim số 0937865286, số imei: 35669608606297 (không kiểm tra chất lượng).

Toàn bộ vật chứng trên hiện nay do Chi cục Thi hành án dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 12 năm 2022.

- Tích thu nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền 290.000đ (hai trăm chín mươi nghìn đồng).

Số tiền này hiện đang được lưu giữ tại kho bạc Nhà nước huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng theo số tài khoản 3941.0.1046443.00000 của Phòng tài chính - KH huyện Hòa Vang.

3. Về án phí Hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Bị cáo Lê Duy H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;

4. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ