- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu G - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/HS-ST Ngày: 05-01-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa:
Ông Vũ Hoàng Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Trung Thành
Ông Nguyễn Viết Xứng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Quỳnh Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Tạ Văn Phú - Kiểm sát viên
Ngày 05 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 89/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2022/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hữu G, sinh năm 1960; tại tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Số nhà 24, đội 2, ấp 4, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn (văn hóa): 07/10; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Xuân Tr (đã chết) và bà Võ Thị L (đã chết); Có vợ là Võ Thị X, sinh năm 1962 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1997; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/8/2022 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Chị Nông Thị M, sinh năm 1999; Địa chỉ: Ấp 1, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. (Đề nghị xét xử vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nông Thị T, sinh năm 1969; Địa chỉ: Ấp 1, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. (Đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 27/01/2022, Nông Thị M điều khiển xe mô tô biển số 93M1 - 007.03 đi trên đường Quốc lộ 14 (QL14) lưu thông theo hướng thành phố Đ đi huyện B, tỉnh Bình Phước. Khi đến đoạn đường QL14 thuộc ấp 4, xã Đ, huyện Đ, chị M điều khiển xe mô tô đang đi trên làn đường dành cho xe ô tô thì va chạm với Nguyễn Hữu G đang đi bộ qua đường nơi không có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, làm M và G ngã xuống đường gây thương tích. Sau khi xảy ra va chạm, Phòng Cảnh sát giao thông (CSGT) Công an tỉnh Bình Phước phối hợp với lực lượng chức năng khám nghiệm hiện trường. Đến ngày 29/3/2022, Phòng CSGT Công an tỉnh Bình Phước chuyển nguồn tin cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ, tỉnh Bình Phước để điều tra theo thẩm quyền. Quá trình điều tra đã làm rõ hành vi phạm tội của Nguyễn Hữu G như trên.
Căn cứ biên bản khám nghiệm hiện trường lúc 20 giờ 10 phút ngày 27/01/2022:
- Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường Quốc lộ 14 (QL14) thuộc ấp 4, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước, được trải nhựa bằng phẳng, tầm nhìn không bị che khuất, hai bên đường có lề đường đất hẹp, đường hơi dốc xuống hướng về huyện B, có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ qua đường, mặt đường rộng 18,55m, ở giữa đường có hai vạch sơn vàng song song liên tục chia thành hai chiều đường, mỗi chiều đường gồm ba làn xe chạy (theo thứ tự từ vạch sơn vàng song song liên tục vào trong mép nhựa, chiều đường từ Đ đi B), làn đường số 1 rộng 3,50m, làn đường số 2 rộng 3,50m, làn đường số 3 rộng 2,60m, làn đường số 1 và số 2 phân chia bởi vạch sơn trắng không liên tục, làn đường số 2 và số 3 phân chia bởi vạch sơn trắng liên tục.
- Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên: (1) vết cày, (2) chiếc dép, (3) vết máu màu đỏ, (4) vết máu màu đỏ, (5) mảnh vỡ, (6) mảnh vỡ, (7) xe mô tô biển số 93M1 - 007.03, (8) vết máu màu đỏ, (9) cụm đèn chiếu sáng.
- Xác định điểm mốc và mép đường chuẩn: Theo hướng từ thành phố Đồng Xoài đi huyện B; Chọn cột điện số 52 bên phải đường QL14 làm điểm mốc; Chọn mép đường nhựa bên phải đường QL14 làm mép đường chuẩn; Đơn vị đo tính bằng mét (m).
- Vết cày (1) dạng không liên tục có chiều dài 11,40 (m), rộng 0,01 (m), bên phải đường, trong làn đường số 2, chiều hướng chếch từ hướng Đ đi B, dấu vết cày cách mép đường chuẩn 3,10 (m) và cách điểm mốc 8,20 (m), cuối vết cày tại vị trí xe mô tô biển số 93M1 - 007.03 nằm ngã (đầu trục gác chân trước bên phải) và cách mép đường chuẩn 2,00 (m).
- Chiếc dép (2) nằm bên phải đường, trong làn đường số 2, điểm đầu và cuối của chiếc dép cách mép đường chuẩn 3,70 (m), đầu chiếc dép cách (1) 3,20 (m).
- Vết máu màu đỏ (3) không rõ hình dạng nằm ở bên phải đường, trong làn đường số 2, có kích thước 0,90 (m) x 0,75 (m), tâm vết máu cách mép đường chuẩn 5,15 (m), cách điểm cuối của (2) 3,00 (m).
- Vết máu màu đỏ (4) không rõ hình dạng nằm ở bên phải đường, trong làn đường số 2, có kích thước 0,50 (m) x 0,70 (m), tâm vết máu cách mép đường chuẩn 5,00 (m), cách tâm của (3) 1,20 (m).
- Mảnh vỡ (5) có kích thước 0,10 (m) x 0,03 (m), nằm ở bên phải đường, trong làn đường số 2, tâm mảnh vỡ cách mép đường chuẩn 3,35 (m), cách tâm của (4) 1,65 (m).
- Mảnh vỡ (6) có kích thước 0,04 (m) x 0,02 (m), nằm ở bên phải đường, trong làn đường số 2, tâm mảnh vỡ cách mép đường chuẩn 3,60 (m), cách tâm của (5) 2,60 (m).
- Xe mô tô biển số 93M1 - 007.03 (7) nằm bên phải đường, trong làn đường số 2 và làn đường số 3, đầu xe hướng chếch sang lề đường bên trái, đuôi xe hướng chếch vào lề đường bên phải. Đầu tâm trục bánh xe trước bên trái cách mép đường chuẩn 2,60 (m), cách tâm của (6) 2,70 (m), đầu tâm trục bánh xe sau bên trái cách mép đường chuẩn 1,50 (m) và cách điểm mốc 9,90 (m).
- Vết máu màu đỏ (8) không rõ hình dạng nằm ở bên phải đường, trong làn đường số 3, có kích thước 0,95 (m) x 0,70 (m), tâm vết máu cách mép đường chuẩn 0,70 (m), cách đầu tâm trục của bánh sau bên trái của (7) 1,20 (m).
- Cụm đèn chiếu sáng xe mô tô (9) nằm ở trong lề đường bên phải đường, tâm cụm đèn cách mép đường chuẩn 1,10 (m) và cách đầu tâm trục bánh trước bên trái của (7) 26,30m.
Tại bản Kết luận pháp y về thương tích số 118/2022/GĐPY ngày 22/02/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dương, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nông Thị M do thương tích gây nên hiện tại là 63%.
Tại bản Cáo trạng số 92/CT-VKS ngày 22/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân (KSND) huyện Đ đã truy tố bị can Nguyễn Hữu G về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS).
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng số 92/CT-VKS ngày 22/11/2022 đã đề cập và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50, Điều 65 BLHS: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu G từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm.
Bị cáo không có chức vụ, không phải là người làm công việc liên quan đến lĩnh vực tham gia giao thông đường bộ nên đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều Điều 260 của BLHS.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
Các vấn đề khác đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định theo quy định pháp luật.
- Bị cáo Nguyễn Hữu G khai nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Vì vậy, hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn G khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện KSND huyện Đ, tỉnh Bình Phước đã truy tố, cụ thể: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 27/01/2022, khi bị cáo đang đi bộ qua đường nơi không có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ tại đoạn đường QL14 thuộc ấp 4, xã Đ, huyện Đ thì va chạm với chị Nông Thị M điều khiển xe mô tô biển số 93M1 - 007.03 đang lưu thông theo hướng thành phố Đ đi huyện B, tỉnh Bình Phước làm chị M và bị cáo ngã xuống đường gây thương tích; riêng chị M bị tổn thương cơ thể 63%.
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường lúc 20 giờ 10 phút ngày 27/01/2022 (BL 45-57), lời khai của người làm chứng (BL 108-109), Kết luận pháp y về thương tích số 118/2022/GĐPY ngày 22/02/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dương (BL 92), vật chứng vụ án (BL 45-48), cũng như những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông là do bị cáo đi bộ qua đường ở nơi không có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, không chú ý quan sát dẫn đến tai nạn giao thông làm chị Nông Thị M bị thương tích 63%, vi phạm khoản 3 Điều 32 Luật Giao thông đường bộ năm 2008. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 BLHS. Do đó, bản Cáo trạng số 92/CT-VKS ngày 22/11/2022 của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định về tham gia giao thông đường bộ, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và làm chủ được hành vi của mình. Bị cáo nhận thức được việc đi sang đường không đúng quy định có thể gây ra tai nạn giao thông nhưng với thái độ chủ quan, bị cáo vẫn đi sang đường và không chú ý quan sát dẫn đến va chạm với bị hại gây tai nạn giao thông, làm bị hại bị thương tích 63%.
Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường khắc phục hậu quả; bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự và không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS được xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Bị cáo có nhân thân tốt.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo; xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có khả năng tự cải tạo nên không cần phải áp dụng từ có thời hạn mà chỉ cần giao bị cáo về nơi cư trú quản lý giáo dục là đủ. Đồng thời, do bị cáo không có chức vụ, hiện bị cáo đang bị thương tật, nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều Điều 260 BLHS.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 đĩa DVD màu trắng, hoa văn xanh, đã được niêm phong trong bì thư có chữ ký của Nguyễn Thanh Tr, Phạm Quang A, Bùi Ngọc A2 và hình dấu mộc đỏ của Phòng CSGT Công an tỉnh Bình Phước. Đây là tài liệu, chứng cứ, chứng minh tội phạm nên lưu trữ cùng hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do bị cáo là người cao tuổi nên xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu G 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm kể từ ngày tuyên án (ngày 05/01/2023).
Giao bị cáo Nguyễn Hữu G cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Hữu G thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Nguyễn Hữu G cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Hữu G theo quy định tại khoản 5 Điều Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
3. Các vấn đề khác
- Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 107 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên lưu trữ cùng hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD màu trắng, hoa văn xanh, đã được niêm phong trong bì thư có chữ ký của Nguyễn Thanh Tr, Phạm Quang A, Bùi Ngọc A2 và hình dấu mộc đỏ của Phòng CSGT Công an tỉnh Bình Phước.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên không xem xét.
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn G.
5. Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước (01); - VKSND tỉnh Bình Phước (01) - VKSND huyện Đ (01); - Chi cục THADS huyện Đ (01); - PV06 - CA tỉnh Bình Phước (01); - Công an huyện (gồm: Nhà tạm giữ, Đội hồ sơ nghiệp vụ, Đội điều tra CA huyện) (03); - TT lý lịch tư pháp - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước (01); - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú (01); - Bị cáo; người tham gia tố tụng (01); - Lưu (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Vũ Hoàng Linh |