- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Tùng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/HS - ST Ngày: 23/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG - TỈNH HÒA BÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Ngọc Anh
Bà Lê Thị Thanh Thủy
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Phong.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Anh Hùng - Kiểm sát viên.
Bà Trần Ngọc Mai - Kiểm sát viên dự khuyết
Ngày 23 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2023/TLST - HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Bùi Văn T - Sinh ngày 24 tháng 12 năm 1999
Tại huyện C - tỉnh H.
Nơi cư trú: Xóm K, xã N, huyện C, tỉnh H;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12. Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam.
Con ông: Bùi Văn Th - Sinh năm: 1974.
Con bà: Bùi Thị M - Sinh năm: 1975.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/9/2023 đến nay; (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 10 phút, ngày 19/9/2023, Bùi Văn T (Sinh năm: 1999, trú tại: xóm K, xã N, huyện C, tỉnh H) đi bộ từ nhà ra đường liên xóm thuộc xóm Khuận, xã Nam Phong. Tại đây, T gặp một người đàn ông không quen biết đang đi xe mô tô (T không nhớ BKS), T hỏi người đàn ông đi nhờ ra đường Quốc lộ 6, người đàn ông đồng ý. Sau đó, T ngồi phía sau xe mô tô do người đàn ông điều khiển đi đến đường Quốc lộ 6 thuộc phố Bằng, xã Tây Phong thì T xuống xe. T đứng chờ một lúc thì có xe bus đi hướng xã Tây Phong đi thành phố Hòa Bình, T lên xe bus, đi đến khu vực xóm Đỉnh Cun, xã Thu Phong thì xuống xe. T đứng một lúc thì thấy một người đàn ông (T từng mua ma túy của người đàn ông này trước đó 1 lần) đứng bên đường. T hỏi: “Anh ơi, còn hàng không” (ý là còn ma túy không), người đàn ông hỏi lại T “Lấy bao nhiêu?”; T trả lời “cho em 200.000”, đồng thời đưa cho người đàn ông số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Người đàn ông đưa lại cho T một gói nilon màu trắng, bên trong có chứa 02 viên nén màu hồng, một mặt mỗi viên nén có in chữ WY. Sau khi lấy được ma túy, T để số ma túy vào túi quần sau bên phải T đang mặc và đi bộ chờ xe bus về để sử dụng ma túy thì bị Tổ công tác Công an huyện Cao Phong và Công an xã Thu Phong yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện ở trong túi quần sau bên phải của T đang mặc có đựng 01 (một) gói nilon màu trắng bên trong có chứa 02 (hai) viên nén màu hồng một mặt có dập chữ cái “WY”. Bùi Văn T đã khai nhận với công tác đó là ma túy hồng phiến mua về để sử dụng cho bản thân. Sau đó tổ công tác đã đưa T cùng toàn bộ tang vật có liên quan và số ma túy về trụ sở Công an xã Thu Phong và mời các thành phần tham gia, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Bùi Văn T.
- Tại Kết luận giám định số: 399/KL-KTHS ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình. Kết luận: “01 (một) gói nilon màu trắng bên trong có chứa 02 (hai) viên nén màu hồng một mặt có dập chữ cái “WY” gửi giám định có tổng khối lượng là: 0,21g (không phẩy hai mốt gram) là ma túy loại Methamphetamine.
Bản cáo trạng số: 25/CT -VKSCP ngày 02/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình đã truy tố Bùi Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo đồng thời phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn T mức án từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mặt trước có ghi “mẫu vật còn lại sau giám định. Vụ: Bùi Văn T, sinh năm 1999 - có hành vi phạm tội về ma túy, xảy ra ngày 19/9/2023 tại xóm Đỉnh Cun, xã Thu Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình”.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với luận tội của đại diện VKS, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
Kết thúc phần tranh tụng bị cáo, đại diện VKS huyện Cao Phong không đưa ra quan điểm đối đáp, tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về thủ tục tố tụng:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật và được sử dụng làm chứng cứ để HĐXX xem xét.
Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là khách quan, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra vụ án, phù hợp với vật chứng thu giữ khi lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Do nghiện ma túy nên ngày 19/9/2023 bị cáo Bùi Văn T đã có hành vi tàng trữ 0,21 gam ma tuý loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Như vậy hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma túy loại Methamphetamine nằm trong danh mục IIC, số thứ tự: 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Chất ma tuý gây ảnh hưởng đến hệ thần kinh của con người khi sử dụng, làm cho con người mất đi lý trí, hành xử một cách vô ý thức và gây ra nhiều tệ nạn xã hội mà không thể lường trước được. Vì những tác hại của ma tuý, nên Đảng và Nhà nước ta cũng như các quốc gia trên thế giới đều kiên quyết loại trừ tệ nạn này ra khỏi đời sống xã hội, pháp luật xử lý rất nghiêm khắc loại tội phạm này. Hành vi của bị cáo cũng đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý, tiếp tay cho tệ nạn ma tuý ngày càng gia tăng, huỷ hoại lối sống, nhân cách của một số thanh niên hiện nay, gây mất trật tự trị an, là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm khác trong xã hội.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức đầy đủ việc mua ma túy nhằm mục đích sử dụng là vi phạm pháp luật, nên hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự, xử hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo thật nghiêm khắc để làm gương răn đe chung.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bản thân bị cáo tham gia nghĩa vụ quân sự, năm 2019 được tặng danh hiệu Chiến sỹ tiên tiến. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Trước khi phạm tội bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và là người mắc nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.
. Về Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí HSST và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông cho T đi nhờ xe từ đường liên xóm ra Quốc lộ 6, T không quen biết người đàn ông này, khi đi nhờ xe T cùng không nói cho người đàn ông mục đích là đi mua ma túy. Vì vậy cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý đối với người đàn ông này là có căn cứ đúng pháp luật.
Về nguồn gốc ma túy: Bùi Văn T khai nhận số ma túy bị thu giữ bị cáo mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ. Cơ quan CSĐT đã lập biên bản rà soát với Công an xã Thu Phong, không xác định được người đàn ông có đặc điểm như trong lời khai của Bùi Văn T. Cơ quan CSĐT tiếp tục điều tra xác minh người đàn ông này, khi làm rõ sẽ xử lý sau.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
2. Hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt: Bùi Văn T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2023.
3. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo Bùi Văn T.
4. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong có chứa 0,17g (không phẩy mười bảy gam) ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau khi giám định.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/11/2023 giữa Công an huyện Cao Phong với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Phong).
5. Về án phí: Áp dụng điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 332, 333 BLTTHS, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hòa Bình; - Phòng 7 - VKSND tỉnh Hoà Bình; - VKSND huyện Cao Phong; - Công an huyện Cao Phong; - Đội THAHS và HTTP CA huyện CP; - Sở tư pháp tỉnh Hòa Bình; - Bị cáo; - Chi cục THADS huyện Cao Phong; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hà |