- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh Q cùng đồng phạm - Tàng trữ TP chất MT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2022/HS-ST ngày 09/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Giang.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/HS-PT Ngày 21-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Kim Quy.
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Tiến, Bà Hoàng Thị Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Yến - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 21/02/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 01/2023/TLPT- HS ngày 17/01/2023 do có kháng cáo của bị cáo Trần Minh Q đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2022/HS-ST ngày 09/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Giang.
- Bị cáo có kháng cáo: TRẦN MINH Q (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 18 tháng 4 năm 1986, tại xã L, huyện Đ, tỉnh Hà Giang; Nơi cư trú: Thôn phố L, xã L, huyện Đ, tỉnh Hà Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn K, sinh năm 1959 (đã chết) và bà Triệu Thị P, sinh năm 1956; Có vợ Nông Thị H, sinh năm 1999 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 22/6/2007 bị Toà án nhân dân tỉnh Hà Giang xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 32/2007/HS-ST); ngày 23/01/2014 bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Hà Giang xử phạt 30 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" (Bản án số 01/2014/HS-ST), đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 14/6/2022, hiện đang tạm giam. Có mặt .
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Minh Q: Bà Nguyễn Thị Thanh H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hà Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 14 tháng 6 năm 2022, tại thôn C, xã L, huyện Đ, tỉnh Hà Giang, tổ công tác của Công an huyện Đ phối hợp với chính quyền địa phương bắt quả tang Trần Minh Q sinh ngày 18/4/1986, La Thanh P sinh ngày 24/9/1982, cùng địa chỉ: Thôn Phố L, xã L, huyện Đ, tỉnh Hà Giang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ được 01 gói nhỏ bằng giấy vệ sinh màu trắng, bên trong có 01 gói bằng giấy màu trắng, có dòng kẻ ngang màu xanh chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy) ký hiệu A1, cân tịnh có khối lượng 0,177 gam.
Công an huyện Đ đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 25/QĐ-TCGĐ ngày 15/6/2022. Tại Bản kết luận giám định số 214/KL-KTHS ngày 20/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Giang kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định, ký hiệu A1 là ma túy, loại Heroin.
Quá trình điều tra, xác định: Khoảng 8 giờ sáng ngày 14/6/2022, La Thanh P đang ở nhà một mình, lấy điện thoại có sim số 0964 939 257 nhưng đã hết tiền, P sử dụng dịch vụ người nghe trả tiền của tổng đài 1588 của Viettel gọi vào số 0385355 550 của Giàng Mí S, địa chỉ: Thôn S, xã S, huyện Đ, tỉnh Hà Giang để hỏi mua ma túy. S nói không có ngay, S lắp sim số điện thoại Trung Quốc gọi điện cho 01 người đàn ông tên P (người Trung Quốc) hỏi P có ma túy bán không, P trả lời có, S hỏi mua với số tiền 200NDT, P đồng ý bán, bảo S lên biên giới Việt Nam- Trung Quốc tại thôn S, xã L, huyện Đ, tỉnh Hà Giang để giao ma túy. Khoảng 10 giờ cùng ngày, S đi xe máy cầm theo 200NDT đi từ nhà đến địa điểm dã hẹn với P, thấy P đứng bên kia hàng rào, P ném qua hàng rào dây thép gai cho S 01 gói nilong màu đỏ, S đón lấy, mở ra kiểm tra thấy một cục màu trắng to hơn hạt ngô, S lấy từ túi quần 200 NDT ném qua cho P rồi đi về. Về nhà, S lấy tờ giấy từ quyển sổ để trên bàn uống nước gấp đôi lại, lấy cục ma túy cho vào tờ giấy, lấy chiếc chén nghiền cục ma túy ra, chia nhỏ thành 4 phần bằng nhau và gói lại. Sau đó, S tháo sim Trung Quốc ra, lắp sim Việt Nam để gọi cho P.
Khoảng 11 giờ cùng ngày, P sau khi gọi điện cho S qua ứng dụng Zalo 2 lần không được, P dùng Zalo gọi cho Trần Minh Q nhưng Q không nghe máy. Khoảng 10 phút sau có 1 số điện thoại là gọi cho P tự xưng là Q, cả hai rủ nhau đi mua ma túy. P gọi điện lại cho S hỏi có ma túy chưa, S trả lời lấy được rồi, đến nhanh không tao đi vắng, P nói khoảng 20 phút nữa sẽ đến. Cùng lúc này, vợ P bảo P mang xe máy nhãn hiệu Honda Ware Alpha biển kiểm soát 23B1-387.01 đem trả cho La Văn H (em trai P). Thấy vậy P cầm theo điện thoại và 550.000 đồng, lấy xe máy đi thẳng đến quầy bán thuốc tân dược mua hai chiếc xi lanh, một ống nước NOVOCAIN rồi đi đến ngã ba thấy Q đang đứng đợi ở đó. Khi đi, Q mang theo 800.000 đồng, một ống nước NOVOCAIN, 01 lọ thủy tinh đựng nước, 01 điện thoại bàn phím. P giao xe máy cho Q điều khiển đi lên nhà S. Đi qua Ủy ban nhân dân (UBND xã S, P gọi điện cho S báo đã đến nơi, S nói "đến chỗ bãi đá xay thì dừng lại để S ra". P lấy ra 250.000 đồng đưa cho Q, Q cho thêm tiền của mình cho đủ 500.000 đồng đợi S ra. Khoảng 5 phút sau, S đến chỗ P và Q. Q đưa S 500.000 đồng, S đưa Q gói ma túy rồi đi về. Q, P đi theo đường mòn xuống taluy âm, chia đôi số ma túy, mỗi người lấy một phần của mình pha vào ống nước NOVOCAIN, dùng xi lanh tiêm vào tĩnh mạch. Sau khi sử dụng xong, Q bảo P gọi điện cho S bảo lấy thêm 01 cái (ý là 01 gói ma túy ) nữa. P gọi điện cho S, S tiếp tục mang ra cho P, Q 01 gói ma túy và được Q tiếp tục trả 500.000 đồng. Sau đó, Q chở P đi về nhà, khi đến cách UBND xã S khoảng 3km, Q dừng xe bảo P "chơi thêm phát nữa rồi về", P đồng ý. Cả hai rẽ xuống bên trái khoảng 70 m đến ngôi nhà hoang, dừng lại, lấy xi lanh ra tiếp tục sử dụng ma túy đã mua của S lần đầu còn lại, còn gói ma túy mua lần 2 Q cho vào túi quần rồi cùng P đi về, khi đến thôn C, xã Ln, huyện Đ, tỉnh Hà Giang thì bị bắt quả tang.
Tại Bản án số 26/2022/HS-ST ngày 09/12/2022 Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Giang đã quyết định:
1. Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Giàng Mí S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; các bị cáo Trần Minh Q, La Thanh P phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Giàng Mí S 07 (Bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt (ngày 01/8/2022).
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Minh Q 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (ngày 14/6/2022).
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo La Thanh P 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 15/12/2022, bị cáo Trần Minh Q có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo quá nặng.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Q vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang sau khi phân tích đánh giá các tình tiết của vụ án và nhận định: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Minh Quyền về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Minh Quyền, giữ nguyên Bản án số 26/2022/HS-ST ngày 09/12/2022 Tòa án nhân dân huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. Lý do: Bị cáo là người tích cực thực hiện hành vi phạm tội , bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Tòa án nhân dân huyện M xử phạt cùng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phần tranh luận, bị cáo Q có ý kiến: Khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ không lớn, chỉ cao hơn mức khởi điểm; bản thân bị cáo có nhân thân xấu nhưng không phải là tình tiết tăng nặng, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 30 tháng tù là quá cao, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Trong lời nói sau cùng bị cáo Trần Minh Q đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định là hợp lệ, đúng theo quy định tại các Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Q khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như bản án của Tòa án nhân dân huyện Đ đã xét xử, bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm; các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 14 tháng 6 năm 2022, tại thôn C, xã L, huyện Đ, tỉnh Hà Giang, Trần Minh Q, La Thanh P, cùng địa chỉ: Thôn Phố L, xã L, huyện Đ, tỉnh Hà Giang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại ma túy Heroin, khối lượng 0,177 gam. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Giang đã xét xử bị cáo Trần Minh Q về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
Xét kháng cáo của bị cáo Trần Minh Q về việc xin giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Quá trình xét xử ở cấp sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ vai trò, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nhưng quyết định hình phạt quá nặng so với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, vì tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định khối lượng ma túy heroin tàng trữ từ 0,1 gam đến 5 gam thì bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm, đối chiếu khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ có khối lượng trên mức khởi điểm của khung hình phạt, mặc dù bị cáo có nhân thân xấu nhưng không có tình tiết tăng nặng nên có căn cứ xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, kháng cáo của bị cáo Trần Minh Q xin giảm nhẹ hình phạt là có căn cứ chấp nhận.
Ý kiến, quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa cho rằng bị cáo là người tích cực thực hiện hành vi phạm tội và đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm nhưng khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ không lớn nên không có căn cứ chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên.
Các nội dung khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự đối với Trần Minh Q: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Minh Q, giảm mức hình phạt cho bị cáo.
Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2022/HS-ST ngày 09/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Giang.
1. Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38, Điều 17 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Minh Q 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (ngày 14/6/2022).
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Minh Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ
PHIÊN TOÀ Hoàng Văn Tiến
Hoàng Thị Vân
Đỗ Thị Kim Quy
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người bào chữa; - VKSND tỉnh Hà Giang; - VKSND huyện Đồng Văn; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Đồng Văn; - Cơ quan THA.HS Công an huyện Đồng Văn; - Tòa án nhân dân huyện Đồng Văn; - Chi cục THADS huyện Đồng Văn; - Cục THADS tỉnh Hà Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Giang; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Kim Quy |