- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Viết Đ - Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, qu…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận nội dung kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Viết Đ, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2022/HS-ST ngày 30/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên như sau:
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/HS-PT Ngày: 21-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Đoàn
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hòa
Ông Lò Văn Lịch
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 06 /2023/TLPT-HS ngày 06 tháng 01năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Viết Đ (tên gọi khác: không) do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2022/HS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.
Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Viết Đ, Tên gọi khác: Không, sinh năm 1980, tại huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn M, xã Tốt Đ, huyện Chương M, thành phố Hà Nội.
Nơi cư trú: Bản Nà B, 3 xã Nà B, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.
Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: Lớp 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam, con ông Nguyễn Viết L, sinh năm 1957; Con bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1957, bị cáo có vợ Nguyễn Thị Q, sinh năm 1984 và 01 con, sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 31/8/2022 đến ngày 09/9/2022 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Thời gian tạm giữ bị cáo là 09 ngày, bị cáo tại ngoại, có mặt.
Những người tham gia tố tụng khác có liên quan đến kháng cáo:
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1984, Địa chỉ: bản Nà B 3, xã Nà B, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.
* Người được triệu tập đến phiên toà: Anh Tráng A G, sinh năm 1996, Địa chỉ: Bản Nậm T 2, xã Nà B, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 30/8/2022, Nguyễn Viết Đ đang ở nhà tại bản Nà B 3, xã Nà B, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên thì có một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 35 tuổi tên Tráng A G ở bản Nậm T 2, xã Nà B, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên đến nhà bị cáo hỏi có mua chân gấu không. Sau khi thoả thuận đồng ý 04 chiếc chân gấu với giá 1.000.000 đồng thì bị cáo nhất trí mua mục đích để ngâm rượu uống. Tráng A G lấy số điện thoại của bị cáo rồi đi về. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 31/8/2022, G gọi điện (từ số điện thoại 0374443774) cho bị cáo hẹn đến khu vực ngã ba đường vào bản Trên N, xã Nà B, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên. Bị cáo đi xe mô tô biển kiểm soát 29X1 – 400.04 đến nơi thì thấy G chờ ở cạnh đường mang theo 01 bao tải xác rắn màu hồng bên trong có 04 chân gấu. Bị cáo cầm lấy bao tải rồi nói với G về nhà sẽ chuyển tiền sau. Bị cáo để bao tải xác rắn chứa chân gấu ở ba ga giữa xe mô tô rồi đi về nhà. Hồi 09 giờ 00 phút cùng ngày, khi bị cáo về đến khu vực bản Nà B 3, xã Nà B, huyện Nậm Pồ thì bị tổ công tác Công an huyện Nậm Pồ phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Nậm Pồ làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang thu giữ 01 bộ chân, tay chân gấu (04 chiếc) có tổng khối lượng 3,6 kg.
Tại bản Kết luận giám định động vật số 1513/STTNSV ngày 12 tháng 10 năm 2022 của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam bút lục 55, 56 kết luận: 01 mẫu ngón chân được ly trích từ 01 mẫu chân động vật là của loài Gấu ngựa, có tên khoa học Ursus thibetanus.
Loài Gấu Ngựa (Ursus thibetanus) có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP, ngày 16/7/2019 của Chính phủ.
Loài Gấu ngựa (Ursus thibetanus) có tên trong nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ- CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2022/HS-ST ngày 30/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên đã quyết định:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 244; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Viết Đ phạm tội " Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm".
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết Đ 15 (mười lăm) tháng tù. Bị cáo được trừ 09 ngày tạm giữ. Thời hạn tù tính từ ngày vào trại chấp hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
Tại Đơn kháng cáo đề ngày 12/12/2022 bị cáo kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2022/HS-ST ngày 30/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên với nội dung xin được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm: Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo, khai nhận hành vi phạm tội và không khiếu nại gì về tội danh và điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử, đồng thời không có khiếu nại gì về các quyết định hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Thực hiện lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo gặp nhiều khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, ngoài lần phạm tội này bị cáo đều chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, mong muốn Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận nội dung kháng cáo để bị cáo được hưởng án treo, tự cải tạo thành người có ích cho xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động xét xử: Tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và cũng không khiếu nại gì về tội danh, điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết.
Quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo có cung cấp giấy xác nhận về việc xin giảm án số 35/GXN- ĐBP ngày 06/02/2023 của Đồn Biên phòng Nà B, Bộ chỉ huy biên phòng tỉnh Điện Biên về việc tích cực giúp đỡ Đồn biên phòng nắm bắt, cung cấp nhiều thông tin liên quan đến một số vi phạm pháp luật tại địa bàn. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới ở giai đoạn phúc thẩm của bị cáo được quy định tại điểm t khoản 1 điều 51/BLHS. Trong quá trình điều tra, xét xử bị cáo đã khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình. Với những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng không nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cũng đủ cho bị cáo nhìn nhận ra lỗi lầm của mình để cải tạo tốt trở thành một người công dân có ích cho xã hội. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo xin hưởng án treo, theo hướng:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 244; Điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 điều 38, điều 65 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Viết Đ phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm". Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết Đ 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Nghị quyết số 326 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Do không đồng ý với Bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2022/HS-ST ngày 30/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên, ngày 12/12/2022 bị cáo Nguyễn Viết Đ đã làm đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo hưởng án treo. Đơn kháng cáo của bị cáo gửi đến Tòa án trong thời hạn kháng cáo phù hợp với quy định tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên hợp pháp.
Xét kháng cáo của bị cáo về việc xin hưởng án treo. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các chứng cứ khác do cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng vụ án, Kết luận giám định số 1334/STTNSV ngày 08/9/2022, Kết luận số 1513/ STTNSV ngày 12/10/2022 của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật – Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam.
Hành vi phạm tội của bị cáo được thể hiện như sau: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 30/8/2022, Nguyễn Viết Đ đang ở nhà tại bản Nà B 3, xã Nà B, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên thì có một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 35 tuổi tên Tráng A G ở bản Nậm T 2, xã Nà B, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên đến nhà bị cáo hỏi có mua chân gấu không. Sau khi thoả thuận đồng ý 04 chiếc chân gấu với giá 1.000.000 đồng thì bị cáo nhất trí mua mục đích để ngâm rượu uống. Tráng A G lấy số điện thoại của bị cáo rồi đi về. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 31/8/2022, G gọi điện cho bị cáo hẹn đến khu vực ngã ba đường vào bản Trên Nương, xã Nà B, huyện Nậm Pồ. Bị cáo đi xe mô tô biển kiểm soát 29X1 – 400.04 đến nơi thì thấy G chờ ở cạnh đường mang theo 01 bao tải xác rắn màu hồng bên trong có 04 chân gấu. Bị cáo cầm lấy bao tải rồi nói với G về nhà sẽ chuyển tiền sau. Bị cáo để bao tải xác rắn chứa chân gấu ở ba ga giữa xe mô tô rồi đi về nhà. Hồi 09 giờ 00 phút cùng ngày, khi bị cáo về đến khu vực bản Nà B 3, xã Nà B, huyện Nậm Pồ thì bị tổ công tác Công an huyện Nậm Pồ phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Nậm Pồ làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang thu giữ 01 bộ chân, tay (04 chiếc) chân gấu có tổng khối lượng 3,6 kg. Tại bản kết luận giám định của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật – Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam. Xác định 01 mẫu ngón chân được ly trích từ 01 mẫu chân động vật là của loài Gấu ngựa, có tên khoa học Ursus thibetanus.
Loài Gấu Ngựa (Ursus thibetanus) có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP, ngày 16/7/2019 của Chính phủ.
Loài Gấu ngựa (Ursus thibetanus) có tên trong nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ- CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ.
Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo điểm b khoản 1 điều 244/ BLHS là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định của pháp luật để xử phạt bị cáo 15 (mười lăm) tháng tù là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Sau khi kháng cáo, quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm bị cáo đã cung cấp thêm chứng cứ bao gồm: Giấy xác nhận về việc xin giảm án số 35/GXN-ĐBP ngày 06 /02/2023 của Đồn Biên phòng Nà B, Bộ chỉ huy biên phòng tỉnh Điện Biên. Trong nội dung của giấy xác nhận thể hiện: Trong thời gian sinh sống, làm ăn tại xã Nà B, gia đình và bị cáo Nguyễn Viết Đ là công dân gương mẫu, luôn chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, cũng như luôn chủ động, tích cực, đóng góp đầy đủ các khoản huy động của bản, xã và các khối cơ quan ban ngành trên địa bàn. Ngoài ra bị cáo còn là quần chúng tốt tích cực giúp đỡ Đồn biên phòng Nà B nắm bắt, cung cấp nhiều thông tin liên quan đến một số vi phạm pháp luật tại địa bàn. Đó là tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại điểm t khoản 1 điều 51/ BLHS.
Xét hoàn cảnh gia đình bị cáo thấy rằng: Vợ bị cáo không có công ăn việc làm ổn định lại đang nuôi con nhỏ, hiện bị cáo là lao động chính trong gia đình. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa bị xét xử về tội danh nào khác, chưa bị xử lý hành chính, am hiểu pháp luật có phần hạn chế nên nhất thời phạm tội. Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo do bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội.
Do vậy Hội đồng xét xử cần xem xét ghi nhận và chấp nhận nội dung kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa và của bị cáo là có căn cứ để chấp nhận. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 điều 357/BLTTHS, chấp nhận nội dung kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2022/HS-ST ngày 30/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên theo hướng áp dụng giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo hưởng án treo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nậm Pồ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân nhân huyện Nậm Pồ, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Do Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 điều 357/ BLTTHS.
Chấp nhận nội dung kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Viết Đ, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2022/HS-ST ngày 30/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên như sau:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 65 của Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Viết Đ phạm tội "Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm".
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết Đ 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 21/02/2023. Giao bị cáo cho UBND xã Nà B, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên quản lý, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Nà B, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên trong việc giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi Hành án hình sự .
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136/BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
4. Án phí phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo không phải chịu án phí HSPT.
5. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2022/HS-ST ngày 30/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (21/02/2023).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Điện Biên; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Điện Biên; - TAND huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên; - Công an huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên; - Chi cục THADS huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; Thông báo UBND xã Nà B - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Phòng HC Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Trọng Đoàn |