vanban.org

Bản án 03/2023/HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn Th được ly hôn với chị Hoàng Thị Nh. Về con chung: Giao anh Nguyễn Văn Th trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Minh H, sinh ngày 24/3/2012. Anh Nguyễn Văn Th chưa yêu cầu chị Hoàng Thị Nh cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn văn Th - Hoàng Thị Nh"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LƢƠNG SƠN
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2023/HNGĐ
Ngày: 08/02/2023.
V/v: Tranh chấp ly hôn,
nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƢƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Mai

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ánh Hồng và bà Hoàng Thị Huyền

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Bình. Thư ký

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 196/2022/TLST-HNGĐ ngày 17/10/2022, về việc:Tranh chấp ly hôn, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2022/QĐXX

- ST ngày 23 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2023/QĐ ST – HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1976.

HKTT:TK LS, thị trấn LS, huyện LS, tỉnh Hòa Bình

Bị đơn: Chị Hoàng Thị Nh, sinh năm 1981.

HKTT và nơi cư trú cuối cùng: TK LS, thị trấn LS, huyện LS, tỉnh Hòa Bình.

Anh Th có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Nh vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ly hôn; Bản tự khai và trong quá trình giải quyết nguyên đơn anh Nguyễn Văn Th trình bày: Anh và chị Hoàng Thị Nh kết hôn ngày 03/10/2001 tại UBND thị trấn XM, huyện CM, TP Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc cho đến năm 2017 vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong làm ăn phát triển kinh tế. Đến năm 2018 chị Nh bỏ nhà đi biệt tích không thấy về. Anh và người thân đã chủ động tìm kiếm đủ mọi biện pháp như anh em họ hàng, thông báo tìm kiếm trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng không có kết quả. Vì vậy, anh đã có đơn yêu cầu tuyên bố chị Hoàng Thị Nh mất tích, ngày 31/8/2022 Tòa án nhân dân huyện LS đã Quyết định tuyên bố mất tích đối với chị Hoàng Thị Nh, sinh năm 1981. Để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của mình ngày 17/10/2022 anh Th có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Hoàng Thị Nh.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Hồng Ph, sinh ngày 28/3/2003 và Nguyễn Minh H, sinh ngày 24/3/2012. Hiện các con đang ở với anh. Anh xin được nuôi con Nguyễn Minh H, đối với cháu Nguyễn Hồng Ph đã trưởng thành nên anh không đề nghị Tòa giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có, không yêu cầu giải quyết.

Về công nợ chung: Không có.

Về phía bị đơn: Chị Hoàng Thị Nh đã bị Tòa án tuyên bố mất tích từ ngày 31/8/2022. Theo Biên bản xác minh của chính quyền địa phương đều xác nhận chị Hoàng Thị Nh có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tiểu khu LS, thị trấn LS, huyện LS, tỉnh Hòa Bình đến nay chưa cắt khẩu đi đâu. Chị Hoàng Thị Nh đã đi khỏi tại địa phương từ năm 2017, khi đi không thông báo cho chính quyền địa phương biết, đến thời điểm này vẫn chưa trở về. Để đảm bảo quyền lợi cho chị Hoàng Thị Nh, Tòa án đã phối hợp với chính quyền địa phương đã niêm yết các văn bản tố tụng cho chị Nh tại nơi cư trú theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tống tụng dân sự. Nhưng đến ngày mở phiên tòa ngày 08/02/2023 chị Hoàng Thị Nh vẫn vắng mặt, không có tài liệu chứng cứ thể hiện chị Nh có địa chỉ khác. Vì vậy không có tài liệu, chứng cứ, bản tự khai của bị đơn. Tòa án căn cứ vào tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các căn cứ của pháp luật để xem xét giải quyết.

Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với chị Hoàng Thị Nh và xin được nuôi con Nguyễn Minh H.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình tiến hành tố tụng Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đương sự được bảo đảm đầy đủ quyền và nghĩa vụ đúng luật định, việc niêm yết văn bản tố tụng đúng quy định.

Về nội dung đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 53, khoản 2 Điều 56, Điều 58, 81, 82, 83 và điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử cho anh Nguyễn Văn Th được ly hôn với chị Hoàng Thị Nh.

Về con chung: Giao anh Nguyễn Văn Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con Nguyễn Minh H, sinh ngày 24/3/2012. Chấp nhận sự tự nguyện về không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của anh Nguyễn Văn Th.

Về tài sản chung và công nợ chung: Không có

Về án phí: Anh Nguyễn Văn Th phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về tố tụng: Tòa án thụ lý là đúng thẩm quyền, do chị Hoàng Thị Nh bị tuyên bố mất tích nên Tòa án không tiến hành hòa giải, chỉ mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại các Điều 207, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Th và chị Hoàng Thị Nh kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn XM, huyện CM, TP.Hà Nội ngày 03/10/2001, quan hệ vợ chồng được pháp luật thừa nhận đây là hôn nhân hợp pháp. Lý do anh Nguyễn Văn Th xin ly hôn là do chị Hoàng Thị Nh đã bị Tòa án tuyên bố mất tích. Căn cứ quyết định số 03/2022/QĐST-TA ngày 31/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện LS, tỉnh Hòa Bình đã tuyên bố chị Hoàng Thị Nh mất tích, quyết định này đã có hiệu lực pháp luật và đến ngày Tòa án mở phiên tòa chị Hoàng Thị Nh vẫn vắng mặt. Do vậy, căn cứ khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho anh Nguyễn Văn Th được ly hôn với chị Hoàng Thị Nh là có căn cứ pháp luật.

Về con chung: Vợ chồng anh Th, chị Nh có hai con chung là Nguyễn Hồng Ph, sinh ngày 28/3/2003 và Nguyễn Minh H, sinh ngày 24/3/2012. Xét thấy hiện chị Nh mất tích để đảm bảo quyền lợi cho con cần giao con Nguyễn Minh H cho anh Nguyễn Văn Th trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục theo quy định tại điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Đối với con Nguyễn Hồng Ph đã trưởng thành nên không xem xét về trách nhiệm nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Th chưa yêu cầu chị Nh cấp dưỡng nên không xem xét.

Trong thời gian anh Th trực tiếp nuôi con mà chị Nh trở về có quyền thăm nom, chăm sóc con mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng không ai được cản trở. Anh Th, chị Nh đều có quyền xin thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, công nợ chung: Anh Nguyễn Văn Th trình bày vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí ly hôn: Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí , lệ phí Tòa án. Anh Nguyễn Văn Th phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn đều có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điều 28; Điều 35; Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn.

1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn Th được ly hôn với chị Hoàng Thị Nh.

2. Về con chung: Giao anh Nguyễn Văn Th trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Minh H, sinh ngày 24/3/2012. Anh Nguyễn Văn Th chưa yêu cầu chị Hoàng Thị Nh cấp dưỡng nuôi con chung.

Trong thời gian anh Th trực tiếp nuôi con mà chị Nh trở về, chị Nh có quyền thăm nom, chăm sóc con mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng không ai được cản trở. Anh Th, chị Nh đều có quyền xin thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung: Không có, không đề nghị Tòa giải quyết.

4. Về công nợ chung: Không có

5. Về án phí: Anh Nguyễn Văn Th phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số: 0003560, ngày 17/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Anh Th đã nộp đủ án phí.

6.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật .

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ