- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị M - Nguyễn Văn D ly hôn, tranh chấp nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Trần Thị M:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/HNGĐ-ST Ngày: 09-01-2023 V/v tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Xuân Lộc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Toàn và bà Nguyễn Thị Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Lộc - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 315/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị M, sinh năm: 1990; Nơi ĐKHKTT: xóm Xuân Hà 3, xã Thành Công, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm: 1983; Nơi ĐKHKTT: xóm Xuân Hà 3, xã Thành Công, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà, nguyên đơn là chị Trần Thị M trình bày: Chị M và anh Nguyễn Văn D tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã Thành Công, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 76 ngày 14 tháng 7 năm 2011. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu. Đến năm 2018, anh D thường xuyên ham chơi, không chăm lo cho gia đình nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Sau đó, anh D vi phạm pháp luật và bị xử lý hình sự và phải đi chấp hành án đến tháng 2 năm 2022 mới trở về địa phương. Mặc dù, vợ chồng đã tìm cách hàn gắn tình cảm, nhưng không có hiệu quả. Chị M nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.
Về con chung: Chị M và anh D có 01 con chung là Nguyễn Trần Nhật P, sinh năm 2011. Chị M hiện đang làm việc tại công ty TNHH Hansol Electronics Việt Nam, có thu nhập ổn định khoảng 8.000.000 đồng/tháng. Do con chung còn nhỏ nên chị M đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị M không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 15 tháng 12 năm 2022, bị đơn là anh Nguyễn Văn D trình bày: Nội dung trình bày của chị M về quá trình tìm hiểu và đăng ký kết hôn là đúng sự thật. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung. Anh D xác định tình cảm vợ chồng hiện tại đã không còn và đồng ý ly hôn với chị M.
Về con chung: Anh D trình bày, vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Trần Nhật P, hiện con chung đang ở cùng anh và chị M. Anh D đề nghị Toà án xem xét cho anh được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh D không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên toà, chị M có mặt và giữ nguyên quan điểm đã trình bày trong quá trình chuẩn bị xét xử. Anh D có đơn xin xét xử vắng mặt và không thay đổi, bổ sung ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về ly hôn. Bị đơn cư trú tại xóm Xuân Hà 3, xã Thành Công, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Quá trình giải quyết, bị đơn là anh Nguyễn Văn D đã được Toà án triệu tập hợp lệ, anh D đã trình bày ý kiến trong bản tự khai nhưng không đến Toà án để tham gia phiên họp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải và dự phiên toà. Anh D đã có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm đã trình bày tại bản tự khai. Xét thấy, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và đã được trình bày đầy đủ ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ quy định tại Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Chị Trần Thị M và anh Nguyễn Văn D tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã Thành Công, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 76 ngày 14 tháng 7 năm 2011 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Theo lời khai của các đương sự, trong quá trình chung sống vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, không có sự thấu hiểu, chia sẻ với nhau, vợ chồng ly thân với nhau trong một thời gian dài. Mặc dù, các bên đã cố gắng tìm cách hàn gắn gia đình nhưng tình hình hôn nhân không cải thiện. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Trần Thị Mợ được ly hôn với anh Nguyễn Văn D theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị M và anh D có 01 con chung là Nguyễn Trần Nhật P, sinh năm: 2011. Trong quá trình giải quyết vụ án, cả chị M và anh D đều có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tại bản trình bày gửi Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, cháu Nguyễn Trần Nhật P có nguyện vọng được ở với mẹ nếu bố mẹ cháu phải ly hôn. Xét thấy, hiện con chung còn nhỏ, chị M có công việc, thu nhập ổn định, căn cứ nguyện vọng của con chung, cần giao con chung cho chị M tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: các đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị M và anh D đều không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí và chi phí tố tụng: Chị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Quyền kháng cáo: Chị M và anh D được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Trần Thị M:
- Về hôn nhân: Chị Trần Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Trần Nhật P, sinh năm 2011 cho Chị Trần Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Không ai được quyền cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự đều không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001279 ngày 02 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, chị Trần Thị M đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND thành phố Phổ Yên; - Chi cục THADS TP. Phổ Yên; - UBND xã Thành Công; - Chị M, anh D; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Xuân Lộc |