vanban.org

Bản án 03/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phùng Minh Tấn.

Về con chung: Giao con chung Phùng Đoan T – Sinh ngày 02/6/2010 cho ông Phùng Minh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi). Bà Đoàn Thị Bích V không cấp dưỡng nuôi con chung. Bà Đoàn Thị Bích V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phùng Minh Tấn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 12/01/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA - TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Hoa

2. Ông Nguyễn Lơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thúy Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân

thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa - tỉnh Khánh Hòa

tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 475/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2022/QĐXX - HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 147/2022/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phùng Minh T - Sinh năm: 1981

Trú tại: Thôn T, xã H, huyện N, tỉnh H.

Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Đoàn Thị Bích V - Sinh năm: 1983

Trú tại: Thôn H, xã H, thị xã H, tỉnh H.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện; bản tự khai và biên bản hòa giải, nguyên đơn ông Phùng Minh Tấn trình bày:

Ông và bà Đoàn Thị Bích V là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh H và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 15/11/2002. Quá trình chung sống giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2018. Nay tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu được ly hôn với bà V.

Về con chung: Ông và bà Đoàn Thị Bích V có 02 con chung tên Phùng Đoan V – Sinh ngày 23/02/2004 và Phùng Đoan T – Sinh ngày 02/6/2010. Ly hôn, ông yêu cầu Tòa án giao con chung Phùng Đoan T – Sinh ngày 02/6/2010 cho bà V nuôi dưỡng, ông tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/tháng cho đến khi cháu Trinh đủ 18 tuổi. Con chung Phùng Đoan V – Sinh ngày 23/02/2004 đã trưởng thành nên ông không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là bà Đoàn Thị Bích V để lấy lời khai và hòa giải nhưng bà V không có mặt nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai và hòa giải được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa phát biểu ý kiến như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 35, Điều 48, Điều 175, Điều 177, Điều 179, Điều 191, Điều 195, Điều 196 và Điều 202 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 72 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về quan hệ hôn nhân. Tài sản chung nguyên đơn không yêu cầu đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Về con chung, do bà V không có mặt tại địa phương nên đề nghị giao con chung Phùng Đoan T – Sinh ngày 02/6/2010 cho ông Phùng Minh T chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; con chung Phùng Đoan V – Sinh ngày 23/02/2004 đã trưởng thành, ông T không yêu cầu giải quyết nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Phùng Minh T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bà Đoàn Thị Bích V là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn Phùng Minh T và bị đơn bà Đoàn Thị Bích V.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Phùng Minh T và bà Đoàn Thị Bích V đăng ký kết hôn năm 2002 tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã H, tỉnh H trên tinh thần tự nguyện và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 139 ngày 15/11/2002. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà V là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời trình bày của nguyên đơn, quá trình vợ chồng chung sống thường phát sinh mâu thuẫn do tính tình và quan điểm sống không hợp nhau. Vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên tình cảm vợ chồng do vậy mà ngày càng mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn được nên vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ năm 2018. Nay ông T không còn tình cảm với bà V nữa nên ông T yêu cầu được ly hôn với bà V. Bà V đã được Tòa án đã triệu tập nhiều lần để Tòa lấy lời khai, hòa giải cũng như tham gia phiên tòa nhưng bà V vắng mặt. Xét thấy, ông T đã không còn tình cảm với bà V, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Ông T và bà V có 02 con chung tên Phùng Đoan V – Sinh ngày 23/02/2004 và Phùng Đoan T – Sinh ngày 02/6/2010. Ly hôn, ông T yêu cầu giao con chung Phùng Đoan T – Sinh ngày 02/6/2010 cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng, ông T tự nghuyện cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/tháng. Bà V đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không có mặt tại Tòa án để thực hiện quyền yêu cầu về việc nuôi con chung. Qua xác minh, bà V hiện nay không có mặt tại địa phương nên Hội đồng xét xử giao con chung Phùng Đoan T – Sinh ngày 02/6/2010 cho ông T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp. Bà V không cấp dưỡng nuôi con chung. Con chung Phùng Đoan V – Sinh ngày 23/02/2004 đã trưởng thành nên ông T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không

xem xét.

Về án phí: Ông T phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo

quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1

Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 264, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phùng Minh Tấn. Ông Phùng Minh T được ly hôn với bà Đoàn Thị Bích V.

2. Về con chung: Giao con chung Phùng Đoan T – Sinh ngày 02/6/2010 cho ông Phùng Minh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi). Bà Đoàn Thị Bích V không cấp dưỡng nuôi con chung. Bà Đoàn Thị Bích V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các đương sự có quyền xin thay đổi

người trực tiếp nuôi con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.

Con chung Phùng Đoan V – Sinh ngày 23/02/2004 đã trưởng thành nên ông Phùng Minh T không yêu cầu giải quyết.

3. Về tài sản chung: Ông Phùng Minh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Ông Phùng Minh T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2021/0004954 ngày 14/6/2022 của Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Ninh Hòa. Ông Phùng Minh T đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Quy định chung: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ