vanban.org

Bản án 03/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Nữ Sáu được ly hôn với ông Nguyễn Văn Tùng. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trường An, sinh ngày 18/3/2011 cho bà Nguyễn Thị Nữ Sáu nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Văn Tùng không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở, đồng thời có nghĩa vụ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUYÊN HẢI
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 16-02-2023
“V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tài

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hà Văn Quen

Ông Trần Văn Nước

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Chăm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Trương Thanh Hà - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 78/2022/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Nữ Sáu, sinh năm 1969. (có mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Tùng, sinh năm 1967. (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Khóm 2, Phường 2, thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 13/6/2022 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Nữ Sáu trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn Tùng tự nguyện kết hôn vào năm 1986, đến năm 2011 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Dân Thành, thị xã Duyên Hải, sau khi kết hôn thì vợ chồng sinh sống ở khóm 2, Phường 2, thị xã Duyên Hải. Cuộc sống vợ chồng bình yên chỉ được vài năm thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Tùng thường hay đi nhậu về rồi kiếm chuyện chửi bới, đánh đập bà. Những lúc như vậy bà nghĩ cho các con nên cố gắng chịu đựng, hiện nay hai người con lớn cũng đã lập gia đình, người con nhỏ cũng đã học lớp 4 nên bà quyết định ly hôn vì bà không thể nào sống chung với ông Tùng được nữa. Về con chung thì vợ chồng bà có ba người con là Nguyễn Trường Chinh, sinh năm 1990; Nguyễn Thị Nhi Hằng, sinh năm 1993 và Nguyễn Trường An, sinh ngày 18/3/2011. Tài sản chung và nợ chung thì không có.

Tại biên bản xác minh ngày 15/12/2022 cháu Nguyễn Trường An có ý kiến là nếu như cha mẹ ly hôn thì cháu muốn được ở với mẹ, cháu An có trình bày thêm là cháu thấy cha mẹ cãi lộn nhiều lần, cha còn đấm vào mặt của mẹ đến bầm tím.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung vụ án, xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Nữ Sáu và ông Nguyễn Văn Tùng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Về con chung, đề nghị giao cháu Nguyễn Trường An cho bà Sáu nuôi dưỡng, tài sản chung và nợ chung không xem xét. Về án phí, bà Sáu phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ kiện tranh chấp ly hôn và nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn Nguyễn Văn Tùng cư trú tại Khóm 2, Phường 2, thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Nữ Sáu và ông Nguyễn Văn Tùng xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện vào năm 1990 và có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 43, quyển I/2011 ngày 06/5/2011 của Ủy ban nhân dân xã Dân Thành nên được xem là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Mặc dù ông Nguyễn Văn Tùng không có ý kiến về việc có đồng ý hay không đồng ý ly hôn, nhưng xét thấy hôn nhân là sự tự nguyện đến từ hai phía, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Trong khi đó từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay bà Sáu vẫn kiên quyết giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn mà không có ý muốn đoàn tụ với lý do là ông Tùng thường hay nhậu nhẹt và đánh bà, mâu thuẫn vợ chồng đã phát sinh từ khi các con còn nhỏ, cháu Nguyễn Trường An là con ruột của ông bà cũng xác nhận có việc ông Tùng đánh bà Sáu. Vì không thể sống được với ông Tùng nên bà Sáu đã dọn ra ngoài sống ly thân đến nay gần 03 năm, từ những điều này chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa bà Sáu với ông Tùng đã rạn nứt, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, khó có thể hàn gắn lại được. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định cho bà Sáu được ly hôn với ông Tùng cũng là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Xét thấy nguyện vọng của cháu Nguyễn Trường An là muốn ở với mẹ, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử quyết định giao cháu An cho bà Sáu tiếp tục nuôi dưỡng. Bà Sáu không yêu cầu ông Tùng cấp dưỡng nuôi con. Đối với hai người con đã trưởng thành bà Sáu không có yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Nữ Sáu phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét quan điểm phát biểu của Kiểm sát viên về việc giải quyết nội dung vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Các Điều 28, 35, 39, 147, 227 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Nữ Sáu được ly hôn với ông Nguyễn Văn Tùng.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trường An, sinh ngày 18/3/2011 cho bà Nguyễn Thị Nữ Sáu nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Văn Tùng không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở, đồng thời có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được chung sống với bà Nguyễn Thị Nữ Sáu.

3. Về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Nữ Sáu phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh theo biên lai thu tiền số 0009881 ngày 24/10/2022.

5. Bà Nguyễn Thị Nữ Sáu có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông Nguyễn Văn Tùng có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

THẨM PHÁN

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Quen

Trần Văn Nước

Nguyễn Hữu Tài

Cỡ chữ