- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "PHẠM THỊ T-NGUYỄN VĂN T"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Phạm Thị T cho bà T và ông Ngyễn Văn Tr được ly hôn với nhau.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/HNGĐ-ST Ngày 08/02/2023 V/v tranh chấp “ ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông NGUYỄN VIẾT XUÂN
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Dƣơng Thị Tố Nhƣ
2. Bà Nguyễn Thị Hạnh
- Th ký phiªn tòa: Bà Nguyễn Thị Bắc - là thư ký Tòa án TP. B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Chung - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 08/02/2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: số: 387/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2022 về việc tranh chấp “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2022/QĐXX - ST ngày 30/12/2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1975
Địa chỉ: Số nhà 827a đường Nguyễn Văn C, phường P, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1970
Địa chỉ: Số nhà 827a đường Nguyễn Văn C, phường P, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Nguyên đơn bà Phạm Th T tr nh ày Bà T và ông Ngyễn Văn Tr kết hôn với nhau vào năm 1997 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, Thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Trước khi kết hôn vợ chồng có thời gian tìm hiểu được khoảng 7 năm. Sau khi về sống chung với nhau thì phát sinh mâu thuẫn , nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do tính tình đôi bên không hợp nhau, vợ chồng bất đồng với nhau về quan điểm sống, về cách làm ăn kinh tế. Nay tình cảm vợ chồng không còn, bà T đề nghị Tòa án cho ly hôn với ông Nguyễn Văn Tr.
2. B đơn ông Nguy n V n Tr tr nh ày Ông Tr và bà Phạm Thị T đăng ký kết hôn vào năm 1997 tại UBND xã T, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng như bà T trình bày trên là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau, vợ chồng sống với nhau bình thường không có mâu thuẫn gì lớn, ông Tr thường xuyên đi làm vườn, rẫy, khoảng 1 tuần mới về một lần, mỗi lần về nhà, không biết vì lý do gì mà bà T lại xa lánh chồng. Vợ chồng sống ly thân nhau gần 1 năm nay mạnh ai người đó sống, bà T c ng không quan tâm chăm sóc ông Tr. Tuy nhiên ông Tr vẫn còn tình cảm với bà T, ông Tr khai theo đạo thiên chúa giáo không được phép ly hôn. Đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ông được trở về đoàn tụ để làm ăn và nuôi dạy con cái.
+ Về con chung: Bà T và ông Tr khai vợ chồng có 03 con chung: Nguyễn Thị Th y T, sinh ngày 25/9/1997; Nguyễn Thị Bảo Tr, sinh ngày 30/9/2003 và Nguyễn Hà Khánh V, sinh 04/05/2005. Hiện nay Cháu T, cháu Tr đã trưởng thành trên 18 tuổi, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn Cháu V chưa đủ 18 tuổi đề nghị Tòa án giải quyết giao cho ai nuôi theo nguyện v ng của cháu. Nếu giao cháu V cho bà T nuôi thì bà T có khả năng nuôi con và không yêu cầu ông Tr cấp dưỡng.
+ Về tài sản: Bà T và ông Tr khai để vợ chồng thỏa thuận tự chia không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa hôm nay bà T có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình. Còn ông Tr cho rằng mình theo đạo thiên chúa giáo không được phép ly hôn, nên không đồng ý.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát thành phố Bảo Lộc phát biểu quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của hội đồng xét xử; xác định mối quan hệ tranh chấp đều đúng pháp luật. Về nội dung vụ án đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Phạm Thị T và cho bà T được ly hôn với ông Ngyễn Văn Tr. Về con chung giao cháu Nguyễn Hà Khánh V, sinh 04/05/2005 chưa thành niên cho bà T nuôi; tài sản chung vợ chồng tự chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về pháp luật tố tụng: Bà Phạm Thị T và ông Ngyễn Văn Tr kết hôn với nhau vào năm 1997 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, Thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Nay bà T xin ly hôn mà ông Tr hiện đang cư trú tại phường P, TP. B. Do đó quan hệ tranh chấp là “ ly hôn ” được quy định tại Điều 28, 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B.
[2].Về pháp luật nội dung: Bà Phạm Thị T và ông Ngyễn Văn Tr kết hôn với nhau vào năm 1997 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, Thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Nay bà T xin ly hôn mà ông Tr, quan hệ tranh chấp được xác định là “ tranh chấp ly hôn, T/c về nuôi con ”. Xét thấy nội dung vụ án ly hôn này ph hợp với các quy định tại các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, do đó căn cứ luật hôn nhân và gia đình để giải quyết.
[3]. Từ những tài liệu và chứng cứ nêu trên, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, của nguyên đơn, bị đơn Hội đồng xét xử nhận định và Kết luận:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị T và ông Nguyễn Văn Tr kết hôn và chung sống với nhau vào năm 1997 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, Thành phố B, tỉnh Lâm Đồng là hôn nhân hoàn toàn tự nguyện đúng pháp luật. Trong quá trình chung sống do tính tình đôi bên không hợp nhau, vợ chồng bất đồng với nhau về quan điểm sống, cách làm kinh tế. Đến tháng 12 năm 2021 thì vợ chồng sống ly thân nhau cho đến nay, mạnh ai người đó sống. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thuyết phục bà T trở về đoàn tụ với ông Tr nhưng bà T vẫn kiên quyết xin được ly hôn. Đối với ông Tr biết tình cảm vợ chồng rất trầm tr ng nhưng không có giải pháp gì để thuyết phục được bà T trở về đoàn tụ.
Từ những phân tích nêu trên cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông Tr kéo dài 01 năm qua không khắc phục được.Tình cảm vợ chồng mà bà T dành cho ông Tr là không còn và rất trầm tr ng, cuộc sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được kết quả hạnh phúc. Do đó căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình xử chấp nhận đơn xin ly hôn của bà T và cho bà T được ly hôn với ông Tr là có cơ sở và đúng pháp luật.
- Về con chung: Bà T và ông Tr có 03 con chung: Nguyễn Thị Th y T, sinh ngày 25/9/1997; Nguyễn Thị Bảo Tr, sinh ngày 30/9/2003, hiện nay Cháu T, cháu Tr đã trưởng thành trên 18 tuổi, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn Cháu Nguyễn Hà Khánh V, sinh 04/05/2005, đến nay được 17 tuổi 6 tháng, theo nguyện v ng của cháu thì cháu xin được ở với mẹ. Do đó căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 luật hôn nhân và gia đình giao cháu V cho bà T nuôi. Bà T có khả năng nuôi con không yêu cầu ông Tr cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: Bà T và ông Tr khai thỏa thuận tự chia không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa không xem xét.
[4].Về án phí: Bà T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
V các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Điều 28, 35, 147 k4, 227 k1,2, 273 k1 Bộ luật Tố tụng Dân Sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội qui định về án phí dân sự.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Phạm Thị T cho bà T và ông Ngyễn Văn Tr được ly hôn với nhau.
2/ Giao con chung tên là Nguyễn Hà Khánh V, sinh 04/05/2005 cho bà T nuôi. Bà T có khả năng nuôi con không yêu cầu ông Tr cấp dưỡng.
Việc trông nom, ch m sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, thay đổi việc nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo qui đ nh của luật hôn nhân và gia đ nh.
3/ Về án phí: Bà Phạm Thị T phải chịu án phí ly hôn là 300.000đ, nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí trước đây là 300.000đ tại biên lai số 0005276 ngày 03 tháng 10 năm 2022 của chi cục Thi hành án dân sự TP. B. Bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4/ Báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Đối với đương sự vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản sao bản án tại UBND xã, phường nơi người đó cư trú theo quy định của luật tố tụng dân sự.
Tr êng hîp b¶n ¸n, QuyÕt ®Þnh ® îc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i ®iÒu 2 luËt thi hµnh ¸n d©n sù th× ng êi ® îc thi hµnh ¸n d©n sù. Ng êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tháa thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc c ìng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t¹i c¸c ®iÒu 6, 7 vµ 9 luËt thi hµnh ¸n d©n sù, thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i c¸c ®iÒu 30 luËt thi
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; -VKSND tỉnh Lâm Đồng; -VKSND Tp.B; -THA Tp.B; - Các đương sự; - UBND xã T; - Lưu. TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG Vào lúc 10 giờ 00 phút, ngày 08 tháng 02 năm 2022. Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc. Hội đồng xét xử sơ thẩm thành phần gồm có: + Thẩm phán - Chủ t a phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Xuân + Các hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Tố Như; bà Nguyễn Thị Hạnh. 10 năm 2022 về việc tranh chấp “ ly hôn ” gi÷a c¸c ®¬ng sù: Nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh Thảo và bị đơn anh Nguyễn Văn Trường. tụng tại phiên tòa, các quy đ nh của pháp luật. phản ánh trong hồ sơ cho thấy bà Phạm Thị Thảo và ông Nguyễn Văn Trường kết hôn và chung sống với nhau vào năm 1997 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lộc Thanh, Thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng là hôn nhân hoàn toàn tự nguyện đúng pháp luật. Trong quá trình chung sống do tính tình đôi bên không hợp nhau, vợ chồng bất đồng với nhau về quan điểm sống, cách làm kinh tế. Đến tháng 12 năm 2021 thì vợ chồng sống ly thân nhau cho đến nay, mạnh ai người đó sống. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thuyết phục bà Thảo trở về đoàn tụ với ông Trường nhưng bà Thảo vẫn kiên quyết xin được ly hôn. Đối với ông Trường biết tình cảm vợ chồng rất trầm tr ng nhưng không có giải pháp gì để thuyết phục được bà Thảo trở về đoàn tụ. Tình cảm vợ chồng giữa bà Thảo dành cho ông Trường không còn đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình xử chấp cho bà Thảo và ông Trường được ly hôn; con chung còn một cháu chưa thành niên giao cho bà Thảo nuôi, bà Thảo có khả năng nuôi con không yêu cầu ông Trường cấp dưỡng. tòa ông Nguyễn Viết Xuân Thống nhất với ý kiến như nêu trên. ĐiÒu 28, 35, 147 k1, 227 k1, 2, 273 k1 Bộ luật Tè tông D©n Sù; Căn cứ vào Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội qui định về án phí dân sự, Quyết định: Tuyên xử: Ngyễn Văn Trường được ly hôn với nhau. nuôi. Bà Thảo có khả năng nuôi con không yêu cầu ông Trường cấp dưỡng. khi ly hôn được thực hiện theo qui đ nh của luật hôn nhân và gia đ nh. 3/ Về án phí: Bà Phạm Thị Thảo phải chịu án phí ly hôn là 300.000đ. tuyên án hôm nay. Đối với đương sự vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản sao bản án tại UBND xã, phường nơi người đó cư trú theo quy định của luật tố tụng dân sự. 3/3. c ng nghe và ký tên dưới đây. CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG BIÊN BẢN HÒA GIẢI Hồi 17 giờ 00 phút, ngày 09 tháng 12 năm 2022. Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng. án dân sự thụ lý số: 387/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2022. I. Những ngƣời tiến hành tố tụng: Thẩm phán - Chủ trì phiên h p: Ông Nguyễn Viết Xuân. Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên h p: Bà Nguyễn Thị Bắc. II. Những ngƣời tham gia phiên hòa giải: + Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thảo, sinh năm 1975 Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. + B đơn: Ông Nguyễn Văn Trƣờng, sinh năm 1970 Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. PHẦN THỦ TỤC BẮT ĐẦU HOÀ GIẢI quan đến việc giải quyết vụ án để đương sự liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hoà giải thành để h tự nguyện thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. HOẶC NGƢỜI ĐẠI DIỆN HỢP PHÁP CỦA ĐƢƠNG SỰ 1. Nguyên đơn Bà Phạm Thị Thảo trình bày: năm 1997 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lộc Thanh, Thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Chúng tôi kết hôn hoàn toàn tự nguyện, không ai bị ép buộc. Trước khi kết hôn vợ chồng có thời gian tìm hiểu được khoảng7 năm. Từ khi về sống chung với nhau từ năm 1997 cho đến nay, vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, tính tình đôi bên không hợp nhau vợ chồng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn về cách làm ăn kinh tế. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được tôi đề nghị Tòa án cho tôi được ly hôn với ông Nguyễn Văn Trường. 25/9/1997; Nguyễn Thị Bảo Trâm, sinh ngày 30/9/2003 và Nguyễn Hà Khánh Vy, sinh 04/05/2005. Hiện nay Cháu Trang, cháu Trâm trên 18 tuổi không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn Cháu Vy đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện v ng của cháu. + Về tài sản: Vợ chồng không có. + Về công nợ: Không có. 2. B đơn Ông Nguyễn Văn Trường trình bày: 1997 tại UBND xã Lộc Thanh, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Trong quá trình chung sống vợ chồng vẫn bình thường tôi không đánh đập bà Thảo. Tôi không biết vì lý do gì bà Thảo sống xa lánh tôi, tôi thường xuyên vào vườn làm rẫy, khoảng 1 tuần về một lần, mỗi lần tôi về bà Thảo lại xa lánh tôi. Vợ chồng sống ly thân gần 1 năm nay mạnh ai người đó sống, bà Thảo c ng không quan tâm chăm sóc tôi. Tuy nhiên Tôi vẫn còn tình cảm với bà Thảo tôi theo đạo thiên chúa không được phép ly hôn. Đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng chúng tôi được trở về đoàn tụ. 25/9/1997; Nguyễn Thị Bảo Trâm, sinh ngày 30/9/2003 và Nguyễn Hà Khánh Vy, sinh 04/05/2005. Hiện nay Cháu Trang, cháu Trâm trên 18 tuổi không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn Cháu Vy đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện v ng của cháu. Hiện nay tôi làm vườn thu nhập khoảng 6.000.000đ/tháng. + Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. + Về nợ chung: Không có. + Về quan hệ hôn nhân: Nguyễn Văn Trường được ly hôn. tụ c ng nhau xây dựng gia đình và nuôi con được tốt hơn. 25/9/1997; Nguyễn Thị Bảo Trâm, sinh ngày 30/9/2003 và Nguyễn Hà Khánh Vy, sinh 04/05/2005. Hiện nay cháu Trang và cháu Trâm đã trên 18 tuổi không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn Cháu Vy đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện v ng của cháu. + Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. + Về nợ chung: Không có. | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ Tọa phiên tòa Nguyễn Viết Xuân CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Đã tiến hành nghị án vụ án thụ lý số: 387/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng C n cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU: + Ý kiến hội thẩm nhân dân bà Dương Thị Tố Như: Qua tài liệu chứng cứ + Ý kiến hội thẩm nhân dân bà Nguyễn Thị Hạnh và ý kiến của chủ t a phiên + Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51 k1, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình; 1/ Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Phạm Thị Thảo cho bà Thảo và ông 2/ Giao con chung tên là Nguyễn Hà Khánh Vy, sinh 04/05/2005 cho bà Thảo Việc trông nom, ch m sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, thay đổi việc nuôi con sau 4/ Báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày + Hội đồng xét xử thống nhất biểu quyết 4 vấn đề nêu trên với số phiếu đồng ý Biên bản nghị án đã được đ c lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Xuân CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ Địa chỉ: Số nhà 827a đường Nguyễn Văn Cừ, phường Lộc Phát, thành phố Địa chỉ: Số nhà 827a đường Nguyễn Văn Cừ, phường Lộc Phát, thành phố Thẩm phán phổ biến cho các đương sự về các quy định của pháp luật có liên Ý KIẾN CỦA CÁC ĐƢƠNG SỰ + Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Ngyễn Văn Trương kết hôn với nhau vào + Về con chung: Vợ chồng tôi có 03 cháu Nguyễn Thị Th y Trang, sinh ngày + Về quan hệ hôn nhân: Tôi và bà Phạm Thị Thảo đăng ký kết hôn vào năm + Về con chung: Vợ chồng tôi có 03 cháu Nguyễn Thị Th y Trang, sinh ngày NHỮNG NỘI DUNG Đà ĐƢỢC CÁC ĐƢƠNG SỰ THỐNG NHẤT, KHÔNG THỐNG NHẤT - Ý kiến của bà Phạm Thị Thảo yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Thảo và ông - Ý kiến của ông Trường: êu cầu Tòa án giải quyết cho vợ chồng trở về đoàn + Về con chung: Vợ chồng tôi có 03 cháu Nguyễn Thị Th y Trang, sinh ngày |