- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Quang H.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:03/2023/HNGĐ-ST Ngày 09-02-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu P
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị T
Bà Lý Thị Thiên N
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức H - Thư ký Toà án nhân dân quận N, thành phố H.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Nhật H - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận N, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 105/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2022 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2023/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Quang H; nơi cư trú: Số 6/25 đường L, phường C, quận N, thành phố H; có mặt.
- Bị đơn: Chị Vũ Bích H; nơi cư trú cuối cùng: Số 6/25 đường L, phường C, quận N, thành phố H; hiện bị tuyên bố mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 08/2022/QĐST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2022 của Toà án nhân dân quận N, thành phố H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn là anh Trần Quang H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2010, anh Trần Quang H và chị Vũ Bích H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L (nay phường C), quận N, thành phố H ngày 31/5/2010. Sau khi kết hôn vợ chồng hòa thuận đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm lối sống, tính cách. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình phân tích, hòa giải nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn vợ chồng nên khoảng cuối năm 2019, chị H đã bỏ nhà đi biệt tích, anh H và gia đình đã tìm kiếm chị H bằng nhiều biện pháp nhưng không có kết quả. Chị H đã bị Toà án nhân dân quận N, thành phố H tuyên bố mất tích tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 08/2022/QĐST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2022. Đến nay, anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Vũ Bích H.
Về việc nuôi con: Anh xác nhận anh và chị Vũ Bích H có hai con chung là Trần Vũ Thu T, sinh ngày 20 tháng 11 năm 2010 và Trần Vũ Quang H, sinh ngày 13 tháng 7 năm 2012. Từ khi chị H bỏ nhà đi và cho đến khi Tòa án tuyên bố chị H mất tích và đến nay, hai con ở cùng với bố. Anh Trần Quang H đề nghị giao cả hai con cho anh trực tiếp nuôi. Nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về việc chia tài sản: Anh Trần Quang H và chị Vũ Bích H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn chị Vũ Bích H vắng mặt, đã bị tuyên bố mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 08/2022/QĐST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2022 của Toà án nhân dân quận N, thành phố H.
Tòa án đã thu thập chứng cứ đối với gia đình anh Trần Quang H, và chị Vũ Bích H thể hiện: Vợ chồng anh H và chị H chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Từ cuối năm 2019, chị H đã bỏ đi biệt tích khỏi nơi cư trú cuối cùng ở tại số 6/25 đường L, phường C, quận N, thành phố H. Nay, anh H có đơn ly hôn với chị Vũ Bích H, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Anh H và chị H có hai con chung là Trần Vũ Thu T, sinh ngày 20 tháng 11 năm 2010 và Trần Vũ Quang H, sinh ngày 13 tháng 7 năm 2012, từ khi chị H bỏ nhà đi và cho đến khi Tòa án tuyên bố chị H mất tích, cho đến nay anh H chăm sóc con rất tốt, nên đề nghị Toà án giao cả hai con cho anh H nuôi dưỡng. Về việc chia tài sản, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố H phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, vi phạm quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho anh Trần Quang H được ly hôn với chị Vũ Bích H; về việc nuôi con: Giao hai con chung là Trần Vũ Thu T, sinh ngày 20 tháng 11 năm 2010 và Trần Vũ Quang H, sinh ngày 13 tháng 7 năm 2012 cho anh Trần Quang H nuôi; nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con, anh H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết; về việc chia tài sản chung anh H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết; anh H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về pháp luật tố tụng:
+ Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Đây là quan hệ pháp luật về ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chị Vũ Bích H có nơi cư trú cuối cùng tại địa bàn quận N nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận N, thành phố H theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về thời hạn giải quyết vụ án:
Ngày 15 tháng 11 năm 2022, Tòa án nhân dân quận N, thành phố H thụ lý vụ án; đến ngày 03 tháng 01 năm 2022, Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Như vậy, Tòa án đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về sự vắng mặt của bị đơn:
Bị đơn chị Vũ Bích H đã bị tuyên bố mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 08/2022/QĐST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2022của Toà án nhân dân quận N, thành phố H nên thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về pháp luật nội dung:
+ Về quan hệ hôn nhân:
Anh Trần Quang H và chị Vũ Bích H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm, lối sống, tính cách. Từ cuối năm 2019 chị H đã bỏ đi biệt tích, khi đi chị H không thông báo cho gia đình đi đâu, ở đâu, anh H đã tìm kiếm chị H bằng nhiều biện pháp nhưng không có kết quả. Anh H đã yêu cầu Toà án nhân dân quận N, thành phố H tuyên bố chị Vũ Bích H mất tích. Tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 08/2022/QĐST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2022, đã tuyên bố chị Vũ Bích H mất tích. Từ đó đến nay, chị H vẫn không trở về chung sống cùng anh H. Trên thực tế, quan hệ hôn nhân của anh H, chị H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh H theo quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
+ Về việc nuôi con:
Anh Trần Quang H và chị Vũ Bích H có hai con chung là Trần Vũ Thu T, sinh ngày 20 tháng 11 năm 2010 và Trần Vũ Quang H, sinh ngày 13 tháng 7 năm 2012. Hội đồng xét xử xét: Chị Vũ Bích H đã bị Tòa án tuyên bố mất tích, từ khi chị H bỏ đi và cho đến khi Tòa án tuyên bố chị H mất tích cho đến nay, anh H nuôi con rất tốt đồng thời hai con cũng có nguyện vọng ở cùng với anh H; anh H đề nghị nuôi cả hai con. Vậy, để đảm bảo sự ổn định về mặt tâm lý, sự phát triển về mọi mặt cho các con, nên giao hai con là Trần Vũ Thu T và Trần Vũ Quang H cho anh Trần Quang H nuôi cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh H không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
+ Về việc chia tài sản:
Anh Trần Quang H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
+ Về án phí:
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh Trần Quang H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 40; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các điều 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Quang H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Quang H được ly hôn với chị Vũ Bích H.
2. Về việc nuôi con: Giao hai con chung là Trần Vũ Thu T, sinh ngày 20 tháng 11 năm 2010 và Trần Vũ Quang H, sinh ngày 13 tháng 7 năm 2012 cho anh Trần Quang H trực tiếp nuôi cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh H không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
3. Về việc chia tài sản: Anh Trần Quang H không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Anh Trần Quang H phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006753 ngày 15 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận N, thành phố H. Anh Trần Quang H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Anh Trần Quang H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Chị Vũ Bích H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND quận N; - Chi cục THADS quận N; - Đương sự; - UBND phường L (nay C), quận N, thành phố H (ĐKKH ngày 31/5/2010); - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu P |