vanban.org

Bản án 03/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thùy L:

Về hôn nhân: chị Tạ Thùy L được ly hôn anh Nguyễn Trung T. Về con chung: Giao 02 con chung tên: Nguyễn Hoàng Minh A, sinh ngày 30/8/2015 và Nguyễn Hoàng Bảo N, sinh ngày 13/02/2018 cho chị Tạ Thùy L tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc đến trưởng thành. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tạ Thị Thùy L tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thùy L:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY SƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2023/HNGĐ-ST
Ngày:
27-02-2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Giang Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Ven.

2. Ông Đặng Văn Trị.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thìn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 365/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Tạ Thùy L, sinh năm 1990 (Vắng mặt, có đơn).

Địa chỉ: Đội X, thôn K, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Trung T, sinh năm 1990 (Vắng mặt lần 02).

Địa chỉ: Thôn G2, xã G, huyện T, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện (đơn yêu cầu ly hôn), bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Tạ Thùy L trình bày: Chị và anh Nguyễn Trung T tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau được gia đình hai bên chấp nhận tổ chức lễ cưới theo phong tục vào ngày 10/6/2013; có đăng ký kết hôn tại UBND xã B vào ngày 20/02/2013. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do anh T không lo làm ăn, không có trách nhiệm, không chu cấp cho vợ nuôi con. Vợ chồng đã cắt đứt quan hệ, phần ai nấy sống từ hơn 02 năm này. Nay xét thấy vợ chồng không còn tình cảm yêu thương gì, chị yêu cầu ly hôn anh T.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên: Nguyễn Hoàng Minh A, sinh ngày 30/8/2015 và Nguyễn Hoàng Bảo N, sinh ngày 13/02/2018 hiện chị đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Hoàng Minh A và Nguyễn Hoàng Bảo N đến trưởng thành; yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con với mức 750.000đ/con/ tháng, bắt đầu cấp dưỡng từ tháng 11/2022 cho đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.

Tại phiên Tòa hôm nay, bị đơn anh Nguyễn Trung T vắng mặt không có lý do: anh Nguyễn Trung T đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập, Quyết định xét xử nhưng vẫn vắng mặt, không cung cấp lời khai và yêu cầu đối với vụ án.

Biên bản xác minh ngày 18/10/2022, Công an xã G cung cấp: anh Nguyễn Trung T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn G2, xã G, huyện T, tỉnh Bình Định theo hộ khẩu (số 1977) do mẹ ruột bà Bùi Thị Th là chủ hộ; anh T đi làm ăn tại TP. Hồ Chí Minh, thỉnh thoảng vẫn về địa phương sinh sống; chưa làm thủ tục chuyển khẩu, cắt khẩu đi nơi khác.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn phát biểu:

Việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử từ khi Tòa thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án là có căn cứ, cơ bản đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tuy nhiên còn có một vài vi phạm. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 BLTT Dân sự 2015. Tuy nhiên, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 72, 73 BLTT Dân sự 2015.

Về quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên xử: Chị Tạ Thùy L được ly hôn anh Nguyễn Trung T. Về con chung: giao 02 con chung là Nguyễn Hoàng Minh A, sinh ngày 30/8/2015 và Nguyễn Hoàng Bảo N, sinh ngày 13/02/2018 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng đến trưởng thành (nguyện vọng của cháu A là được sống cùng mẹ); về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Nguyễn Trung T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con với mức 750.000đ/con/ tháng; bắt đầu thực hiện việc cấp dưỡng từ tháng 02/2023 cho đến khi hai con chung (A và N) đủ 18 tuổi; không chấp nhận yêu cầu của chị L về việc buộc cấp dưỡng từ tháng 11/2022. Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết nên miễn xét. Án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Tạ Thùy L có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn là anh Nguyễn Trung Tg vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Tạ Thùy L và anh Nguyễn Trung T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B vào ngày 20/02/2013 đúng theo quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được công nhận hôn nhân hợp pháp.

Sau khi cưới, vợ chồng chung sống đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do anh T không có trách nhiệm với gia đình, do hai bên bất đồng nhiều trong cuộc sống mà không giải quyết được dẫn đến vợ chồng thường xuyên bất hòa. Chị L đã cố gắng chung sống nhưng tình hình không tiến triển. Hai bên đã cắt đứt quan hệ từ năm 2022. Vợ chồng xa cách đã lâu nhưng anh T vẫn bỏ mặc tình trạng hôn nhân của mình. Như vậy, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị L yêu cầu ly hôn với anh T là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên HĐXX chấp nhận.

Về con chung: Chị L và anh T có 02 con chung tên: Nguyễn Hoàng Minh A, sinh ngày 30/8/2015 và Nguyễn Hoàng Bảo N, sinh ngày 13/02/2018 hiện chị L đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị L yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung (A và N) đến trưởng thành. Yêu cầu của chị L là phù hợp với nguyện vọng của con chung A (được tiếp tục sống cùng mẹ), phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nghị nên chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L yêu cầu anh Nguyễn Trung T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với mức 750.000đ/con; yêu cầu này là phù hợp với quy định tại các Điều 107 và 110 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên HĐXX chấp nhận. Buộc anh T phải thực hiện việc cấp dưỡng nuôi 02 con chung kể từ tháng 02/2023, do đó không chấp nhận yêu cầu của chị L về việc buộc anh T phải bắt đầu cấp dưỡng từ tháng 11/2022 (vì không phù hợp với thực tế và pháp luật).

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Căn cứ Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: cần buộc chị Tạ Thùy L phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 0007464 ngày 18/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn; chị L đã nộp đủ án phí.

Án phí đối với người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Trung T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật hôn nhân và gia đình 2014;

Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thùy L:

- Về hôn nhân: chị Tạ Thùy L được ly hôn anh Nguyễn Trung T.

- Về con chung: Giao 02 con chung tên: Nguyễn Hoàng Minh A, sinh ngày 30/8/2015 và Nguyễn Hoàng Bảo N, sinh ngày 13/02/2018 cho chị Tạ Thùy L tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc đến trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Nguyễn Trung T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với mức 750.000đ/con, bắt đầu thực hiện từ tháng 02/2023 cho đến khi 02 con chung (A và N) đủ 18 tuổi.

Không chấp nhận yêu cầu của chị L về việc buộc anh T phải thực hiện việc cấp dưỡng từ tháng 11/2022 vì không phù hợp với thực tế và pháp luật.

Bên không trực tiếp nuôi con nhưng vẫn có quyền thăm nom, giúp đỡ con chung, không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu nên miễn xét.

2/ Về án phí sơ thẩm:

- Án phí ly hôn: chị Tạ Thùy L phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ - tạm ứng án phí đã nộp trước theo biên lai số 0007464 ngày 18/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn; chị L đã nộp đủ án phí.

- Án phí đối với người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Trung T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

3/ Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

4/ Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ