vanban.org

Bản án 03/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

{1} Về tình cảm: Cho chị Lê Thị H được li hôn anh Nguyễn Đình T.

{2} Về con chung: Giao con chung của vợ chồng là cháu Nguyễn Minh N; sinh ngày 05 tháng 8 năm 2020 cho chị Lê Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi li hôn. Buộc anh Nguyễn Đình T đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm ngàn) mỗi tháng; Thời gian đóng góp cấp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hằng- Thọ"
  • Tòa quyết gì? {1} Về tình cảm: Cho chị Lê Thị H được li hôn anh Nguyễn Đình T.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHI LỘC
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:03/2023/HNGĐ- ST
Ngày 13-01-2023
(V/v tranh chấp ly hôn, quyền
nuôi con chung)

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Loan Hòa

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Đức Dũng; ông Lê Quang Hòa

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thùy Dung- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc tham gia phiên toà: bà Hồ Thị Hậu- Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 240/2022/TLST- HNGĐ ngày 31/10/2022 về việc “Kiện xin li hôn, quyền nuôi con chung ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2022/QĐXX-ST ngày 28 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Lê Thị H, sinh năm 1997

Địa chỉ: xóm T, xã Nghi T, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: anh Nguyễn Đình T, sinh năm 19931

Địa chỉ: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin li hôn đề ngày 01/10/2022 và các lời khai, biên bản hòa giải, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày: Ngày 04 tháng 3 năm 2020, chị và anh Nguyễn Đình T đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.Tuy nhiên, sau khi cưới thì vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn vì không có quan điểm chung trong cuộc sống, không quan tâm đến nhau. Cả hai bên vợ chồng đã tìm cách tự hóa giải nhưng vẫn không thành; cuộc sống luôn căng thẳng, không thể hàn gắn được. Hiện tại, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin li hôn với anh T.

Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh N; sinh ngày 05 tháng 8 năm 2020. Hiện cháu đang ở cùng chị. Chị H có nguyện vọng xin được tiếp tục nuôi con và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm ngàn đồng) .

Về tài sản: vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ và vay nợ: không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: chị xin chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị đơn là anh Nguyễn Đình T cũng trình bày trong lời khai, xác nhận nội dung như chị đã trình bày về mâu thuẫn và xác nhận sống li thân từ năm đã lâu; Tuy nhiên, anh không đồng ý li hôn vì xét vẫn còn tình cảm với chị; Về con cái, anh công nhận lời khai của chị là đúng và anh đồng ý giao cho chị nuôi cháu, tự nguyện đóng góp cấp dưỡng nuôi con, mỗi cháu mỗi tháng 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm ngàn đồng)

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành và người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước lúc nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Việc thụ lý đúng thẩm quyền; xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng; chuyển hồ sơ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát, thời hạn giải quyết tuân thủ quy định của pháp luật. Việc xét xử vắng mặt đương sự đúng quy định.

Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 56; 81, 82 và Điều 83 luật Hôn nhân và gia đình cho chị Lê Thị H được li hôn anh Nguyễn Đình T; Xem xét các tình tiết thu thập được trong vụ án, đề nghị giao con chung của vợ chồng cho mẹ của các cháu trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật và nguyện vọng của cả hai bên; chưa xem xét đến cấp dưỡng nuôi con vì nguyên đơn chưa yêu cầu. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết án phí theo quy định chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

{1} Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thu thập lời khai các đương sự, họp phiên công khai chứng cứ, tiến hành hòa giải hợp lệ; việc các đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn xin vắng mặt; Bị đơn không đồng ý li hôn và xin vắng mặt nên Tòa án mở phiên tòa để xét xử theo quy định.

{2} Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Xét ngày 04/3/2020, chị Lê Thị H và anh Nguyễn Đình T đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An và đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn và không vi phạm các quy định về điều kiện kết hôn tại điều 8, điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy quan hệ hôn nhân đó là hợp pháp.

- Về tình cảm: Hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ lâu, li thân đã lâu; bản thân anh T không muốn li hôn nhưng cũng thừa nhận nội dung này và chấp nhận li hôn nếu chị H kiên quyết giữ nguyên ý kiến. Xét mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng; mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp thuận ý kiến của chị H, cho chị được li hôn với anh Nguyễn Đình T.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh N; sinh ngày 05 tháng 8 năm 2020; Cháu N hiện đang do chị chăm sóc, nuôi dưỡng nên chị H có nguyện vọng xin được tiếp tục nuôi con và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng và anh T cũng nhất trí;

Xét các tình tiết thu thập được và hoàn cảnh sống của các bên, Hội đồng xét xử thấy nên giao con chung của vợ chồng cho mẹ của cháu trực tiếp nuôi dưỡng là đúng quy định của pháp luật; đảm bảo lợi ích về mọi mặt; thuận lợi cho sự phát triển tâm sinh lí của cháu. Bản thân chị yêu cầu cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu mỗi tháng 1,5 triệu đồng nhưng anh T hoàn toàn nhất trí; Đây là nguyện vọng hoàn toàn tự nguyện và chính đáng của đương sự, Hội đồng xét xử thấy cần ghi nhận.

{2.3} Về tài sản chung, nợ và cho vay nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

{2.4} Về án phí: chị Lê Thị H phải chịu 300.000đ án phí li hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56; 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 bộ luật Tố tụng Dân sự; Xử:

{1} Về tình cảm: Cho chị Lê Thị H được li hôn anh Nguyễn Đình T.

{2} Về con chung: Giao con chung của vợ chồng là cháu Nguyễn Minh N; sinh ngày 05 tháng 8 năm 2020 cho chị Lê Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi li hôn. Buộc anh Nguyễn Đình T đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm ngàn) mỗi tháng; Thời gian đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung tính từ tháng 01 năm 2023 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi trưởng thành.

Anh Nguyễn Đình T có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Nếu anh T lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung thì chị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung của anh Nguyễn Đình T.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án và tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

{3} Về tài sản chung: Không

{4} Về án phí: chị Lê Thị H phải chịu 300.000đồng án phí li hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã đóng tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nghi Lộc theo biên lai số 0005448 ngày 31/10/2022; chị Lê Thị H tiếp tục phải nộp 300.000 đồng.

{5} Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ