vanban.org

Bản án 03/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H J Ayun.

Về quan hệ hôn nhân: Chị H J Ayun được ly hôn với anh Y Th. Về nuôi con chung: giao cháu H’ S Ayun, sinh ngày 29/5/2014 và cháu H’ S AYun, sinh ngày 13/12/2015 cho chị H J Ayun trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H J Ayun.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK MIL
TỈNH ĐẮKNÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2023/HNGĐ-ST
Ngày 13-01-2023
“V/v ly hôn; tranh chấp quyền
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Trúc Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Sỹ Phác và ông Nguyễn Duy Chấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuyến - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên toà: Bà Lê Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 228/2022/TLST - HNGĐ ngày 03/10/2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2022/QĐXX-ST ngày 12/12/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 03/2023/QĐST-HNGĐ ngày 06/01/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị H J Ayun, sinh năm 1991; địa chỉ: 337/115 V, Buôn Ê r, phường Kh, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Y Th, sinh năm 1992; địa chỉ: Bon B, xã Th, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn trình bày: Chị H J Ayun và anh Y Th kết hôn ngày 26/3/2013 đăng ký kết hôn tại UBND phường Kh, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, quá trình chung sống hạnh phúc, có 02 con chung là cháu H’ S Ayun, sinh ngày 29/5/2014, cháu H’ S AYun, sinh ngày 13/12/2015. Từ năm 2017 vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân không cùng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, hay cãi vả dần dần lâm vào tình trạng trầm trọng không thể cứu vãn được nữa, cuộc sống hôn nhân lúc nào cũng thấy ngột ngạt, tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy chị H J Ayun đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Y Th.

Về con chung: Chị H J Ayun có nguyện vọng được nuôi cháu H’ S Ayun, sinh ngày 29/5/2014 và cháu H’ S AYun, sinh ngày 13/12/2015 cho đến khi đủ 18 tuổi, do các cháu đang ở với chị.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu.

Về tài sản chung và công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên toà phát biểu quan điểm: Về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn chị H J Ayun đều chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 58 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về hôn nhân: Chị H J Ayun được ly hôn với anh Y Th.

Về con chung: Giao cháu cháu H’ S Ayun, sinh ngày 29/5/2014 và cháu H’ S AYun, sinh ngày 13/12/2015 cho chị H J Ayun trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không đề nghị giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không đề nghị giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì nguyên đơn phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị H J Ayun yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Y Th, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn có đăng ký hộ khẩu và hiện đang sinh sống tại Bon B, xã Th, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông nên Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về sự vắng mặt của các đương sự: chị H J Ayun vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên chị H J Ayun có đơn xin xét xử vắng mặt gửi đến Tòa án. Đối với bị đơn đã được Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng bị đơn cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị H J Ayun và anh Y Th kết hôn với nhau vào ngày 26/3/2013 có đăng ký kết hôn tại UBND phường Kh, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Trong quá trình chung sống hai bên xảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, không còn khả năng đoàn tụ, anh chị đã không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ, hôn nhân thật sự không đạt được mục đích, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay, chị H J Ayun và hai con về ở nhà mẹ đẻ của chị H J Ayun tại địa chỉ: 337/115 V, Buôn Ê r, phường Kh, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk sinh sống còn anh Y Th sống tại Bon B, xã Th, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H J Ayun.

- Về con chung: Chị H J Ayun có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, cháu H’ S Ayun và cháu H’ S Ayun đang ở cùng với chị H J Ayun từ khi hai vợ chồng sống ly thân với nhau và nguyện vọng các cháu muốn ở với mẹ. Do đó cần tiếp tục giao hai con chung cho chị H J Ayun trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

- Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

- Về án phí: Căn cứ Điều 144, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

- Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tại phiên toà là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228; Điều 144, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58 của Luật hôn nhân gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H J Ayun.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị H J Ayun được ly hôn với anh Y Th.

2. Về nuôi con chung: giao cháu H’ S Ayun, sinh ngày 29/5/2014 và cháu H’ S AYun, sinh ngày 13/12/2015 cho chị H J Ayun trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại, thăm nom và chăm sóc, giáo dục con chung, người trực tiếp nuôi con không được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm nom, giáo dục các cháu.

Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn; yêu cầu cấp dưỡng theo quy định các Điều 84; Điều 110 ; Điều 117; Điều 118 và Điều 119 Luật Hôn nhân gia đình.

3. Về án phí: Chị H J Ayun phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006829 ngày 30/9/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ