- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BUI THI B - NGUYEN VAN LONG"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị B.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12-12-2023 V/v tranh chấp: Ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG , TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thùy Linh – Thẩm phán sơ cấp; Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Thủy và ông Đỗ Quốc Kỳ
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thành Đạt - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng – Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 12 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 01/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp hôn nhân gia đình – ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Bùi Thị B, năm sinh: 1988 (có mặt); Nơi cư trú: xóm Đai, xã Thạch Yên, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1988 (có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt); Nơi cư trú: xóm Đai, xã Thạch Yên, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Trong đơn khởi kiện ngày 30 tháng 9 năm 2023, các lời khai khai, phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Bùi Thị B trình bày:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị B và anh Nguyễn Văn L kết hôn có đăng ký kết hôn tại UBND xã Cun Pheo, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình theo Giấy chứng nhận kết hôn số 29 quyển 01 ngày 26/11/2010. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường, cùng đi làm công nhân ở huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và thuê nhà trọ ở tại đó, các con thì gửi ông bà ngoại và anh trai chị B chăm sóc. Những năm gần đây vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh L chơi cờ bạc, rượu chè, sử dụng ma túy, không chí thú làm ăn, không chăm sóc gia đình. Anh L đã hứa sửa chữa lỗi lầm nên vợ chồng tiếp tục chung sống. Tháng 11/2022 chị B về quê chăm con, khi quay lại Bắc Ninh thì phát hiện anh L đã bán hết tài sản vợ chồng mua sắm ở nhà trọ và bỏ đi khỏi nơi trọ, không về nhà ở Cao Phong, không liên lạc với gia đình. Chị B đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh L không thay đổi. Chị B thấy tình cảm vợ chồng không còn, không muốn ảnh hưởng đến cuộc sống của con cái và gia đình nên kiên quyết xin ly hôn anh L.
1.2. Về con chung, nuôi con, cấp dưỡng nuôi con: Chị B và anh L có 02 con chung là Bùi Thị Thúy Vân, giới tính nữ, sinh ngày 01/6/2011; Bùi Ngọc Bình, giới tính nam, sinh ngày 18/8/2017. Khi ly hôn chị B xin được nuôi cả 02 con và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
1.3. Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, chưa yêu cầu giải quyết.
1.4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
2. Tại Đơn đề nghị về việc giải quyết vắng mặt và Đơn đề nghị về việc xét xử vắng mặt đề ngày 06/11/2023, bị đơn – anh Nguyễn Văn L trình bày:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Anh L xác nhận ngày 26/11/2010 kết hôn với chị B tại UBND xã Cun Pheo, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình. Anh L thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn. Anh L đồng ý ly hôn với chị B.
2.2. Về con chung: Anh L đồng ý để chị B nuôi dưỡng cả 02 con chung là Bùi Thị Thúy Vân, giới tính nữ, sinh ngày 01/6/2011 và Bùi Ngọc Bình, giới tính nam, sinh ngày 18/8/2017 và không đặt ra việc giải quyết cấp dưỡng nuôi con.
2.3. Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, chưa yêu cầu giải quyết;
2.4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Anh L cũng trình bày: Do đang bị tạm giam, thi hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh nên đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.
3. Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81,82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 147, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện cho chị B được ly hôn anh L; giao 02 con chung cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng; tuyên quyền thăm nom, thay đổi nuôi con chung; chị B phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về thủ tục tố tụng
1.1. Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; bị đơn có nơi cư trú tại huyện Cao Phong do vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Phong theo điểm (a) khoản 1 Điều 35, điểm (a) khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã nộp đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ kèm theo và nộp tạm ứng án phí nên việc thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định các Điều 69, 186, 189, 195 Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2. Về việc giải quyết, xét xử vắng mặt Bị đơn:
Anh Nguyễn Văn L có đơn đề nghị giải quyết và xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh L.
Về nội dung
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Xét chị Bùi Thị B và anh Nguyễn Văn L đăng ký kết hôn ngày 26/11/2010 tại UBND xã Cun Pheo, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình, không vi phạm các quy định về điều kiện kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp. Về nguyên nhân mâu thuẫn là do anh L chơi cờ bạc, rượu chè, sử dụng ma túy, không chí thú làm ăn, không chăm sóc gia đình, chị B đã khuyên can nhiều lần nhưng không có kết quả. Qua các tài liệu Tòa án thu thập xác thực anh L đã từng bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cai nghiện và hiện đang chấp hành án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, như vậy lời khai của chị B là có căn cứ. Anh L thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn nên đồng ý ly hôn. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị B và anh L đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị B.
2.2. Về con chung, nuôi con, cấp dưỡng nuôi con:
Về con chung: Chị B và anh L có 02 con chung là Bùi Thị Thúy Vân, giới tính nữ, sinh ngày 01/6/2011; Bùi Ngọc Bình, giới tính nam, sinh ngày 18/8/2017.
Về nuôi con khi ly hôn: Xét thực tế cả 02 con đều đang do chị B trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục, anh L đang chấp hành án nên không thể thực hiện việc nuôi dưỡng các con. Ngoài ra, nguyện vọng của cháu Vân là muốn sống với mẹ nên căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, giao 02 con chung cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2.3 Về tài sản chung: Đương sự thống nhất tự thỏa thuận chưa yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2.4 Về nợ chung: Đương sự thống nhất không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2.5. Về án phí: Chị Bùi Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.
2.6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81,82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị B.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị B được ly hôn anh Nguyễn Văn L.
2. Về con chung, nuôi con, cấp dưỡng nuôi con:
- Về con chung: chị B và anh L có 02 (Hai) con chung là Bùi Thị Thúy Vân, giới tính nữ, sinh ngày 01/6/2011 và Bùi Ngọc Bình, giới tính nam, sinh ngày 18/8/2017.
- Về nuôi con chung: Giao 02 (Hai) con chung là Bùi Thị Thúy Vân, giới tính nữ, sinh ngày 01/6/2011 và Bùi Ngọc Bình, giới tính nam, sinh ngày 18/8/2017 cho chị Bùi Thị B trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự chưa đặt ra yêu cầu giải quyết.
Bên không nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con theo luật định. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: chị Bùi Thị B phải nộp 300.000Đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000Đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003052 ngày 06/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Phong.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hòa Bình; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện Cao Phong; - Chi cục THADS huyện Cao Phong; - UBND xã Cun Pheo, huyện Mai Châu; - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh; - Các đương sự; - Lưu HSVA./. | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Thùy Linh |