vanban.org

Bản án 03/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 07/03/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hoài N.

Buộc bà Hoàng Thị H phải trả cho ông Nguyễn Hoài N số tiền gốc đã vay là 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng theo Giấy vay tiền ngày 10 tháng 02 năm 2020. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi củ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Hoài N - Hoàng Thị H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hoài N.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2023/DS-ST
Ngày 07 - 3 - 2023
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thu Trang

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Ngân

2. Bà Vũ Thị Hoà

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Anh Tùng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 68/2022/TLST-DS ngày 19 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST - DS ngày 31 tháng 01 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2023/QĐST-DS ngày 17 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoài N - Sinh năm 1990

Địa chỉ: Khu A, thị trấn H, huyện T, tỉnh Phú Thọ

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Mạnh H - Sinh năm 1983

Địa chỉ: Số nhà A, phố T, phường , thành phố L, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

(Theo giấy ủy quyền ngày 03/10/2022)

2. Bị đơn: Bà Hoàng Thị H (Tên gọi khác: O) - Sinh năm 1984

Địa chỉ: Số nhà B, ngõ S, đường S, tổ D, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt

3. Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn T - Sinh năm 1983

Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hoài N, quá trình giải quyết vụ án, đơn xin xét xử vắng mặt ngƣời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Mạnh H thống nhất trình bày:

Do có mối quan hệ quen biết nên ngày 10/02/2020 ông Nguyễn Hoài N có cho cá nhân bà Hoàng Thị H - Sinh năm 1984, chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx do công an tỉnh Lào Cai cấp ngày 15/12/2014, địa chỉ: số nhà 012, ngõ Sơn Đạo 1, đường Sơn Đạo, tổ 25 (nay là tổ 29), phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai vay số tiền 500.000.000 đồng. Hợp đồng vay tiền không tính lãi. Thời hạn vay từ ngày 10/02/2020 đến ngày10/5/2021. Để đảm bảo cho khoản vay trên bà Hiền có đưa cho ông Nam giữ 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP091267, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01717 do Uỷ ban nhân dân thành phố Lào Cai cấp ngày 15/01/2020 mang tên bà Hoàng Thị H. Việc bà Hiền giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho ông Nguyễn Hoài N mục đích là để làm tin, các bên không làm hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và cũng không làm thủ tục đăng ký bảo đảm tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc bà Hoàng Thị H vay tiền ông Nguyễn Hoài N có anh Nguyễn Văn T làm chứng. Sau khi hết thời hạn vay mặc dù ông Nguyễn Hoài N đã nhiều lần trực tiếp đến nhà bà Hoàng Thị H để đòi nợ nhưng bà Hiền không trả nợ cho ông Nam.

Vậy để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Hoài N, đề nghị Toà án nhân dân thành phố Lào Cai giải quyết buộc bà Hoàng Thị H phải trả cho ông Nguyễn Hoài N số tiền gốc đã vay theo giấy vay tiền ngày 10/02/2020 là 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng, không yêu cầu bà Hoàng Thị H phải trả tiền lãi. Ông Nguyễn Hoài N sẽ trả lại cho bà Hoàng Thị H Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP091267, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01717 do Uỷ ban nhân dân thành phố Lào Cai cấp ngày 15/01/2020 mang tên bà Hoàng Thị H.

Đối với bị đơn bà Hoàng Thị H: Sau khi thụ lý vụ án, do bị đơn bà Hoàng Thị H thường xuyên vắng nhà, thời gian đi lại không cố định nên Tòa án không tiến hành tống đạt trực tiếp được cho bà Hoàng Thị H. Tòa án đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng và tài liệu, chứng cứ thu thập được cho bà Hoàng Thị H theo quy định nhưng bà Hoàng Thị H không có văn bản trả lời và không đến Toà án làm bản tự khai, tiếp cận công khai chứng cứ. Bà Hoàng Thị H vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ, do đó Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bà Hoàng Thị H.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tố tụng được tiến hành đầy đủ. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của của nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn đúng quy định. Bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không cung cấp tài liệu chứng cứ, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không tham gia phiên tòa. Tại phiên tòa người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn và người làm chứng vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ. Đề nghị hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463; Điều 470 của Bộ luật Dân sự: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hoài N.

Buộc bà Hoàng Thị H phải có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Hoài N số tiền gốc đã vay là 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng theo Giấy vay tiền ngày 10 tháng 02 năm 2020. Ông Nguyễn Hoài N phải trả lại cho bà Hoàng Thị H Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP091267, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01717 do Uỷ ban nhân dân thành phố Lào Cai cấp ngày 15/01/2020 mang tên bà Hoàng Thị H.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Hoài N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Hoàng Thị H hoàn trả 500.000.000 đồng tiền gốc bà Hoàng Thị H đã vay theo Giấy vay tiền ngày 10/02/2020, do đó Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo giấy vay tiền ngày 10/02/2020 và xác minh của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai thì bị đơn bà Hoàng Thị H đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại số nhà 012, ngõ Sơn Đạo 1, đường Sơn Đạo, tổ 29 (tổ 25 cũ), phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Trần Mạnh H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn bà Hoàng Thị H và người làm chứng anh Nguyễn Văn T vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Xét hợp đồng vay tài sản: Ông Nguyễn Hoài N đề nghị Toà án giải quyết buộc bà Hoàng Thị H phải hoàn trả cho ông Nguyễn Hoài N số tiền 500.000.000 đồng đã vay. Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoài N là giấy vay tiền ngày 10/02/2020. Giấy vay tiền ngày 10/02/2020 do bà Hoàng Thị H viết tay và ký tên, có ông Nguyễn Văn T ký tên người làm chứng là phù hợp theo quy định tại Điều 119 của Bộ luật Dân sự. Nội dung của giấy vay tiền ngày 10/02/2020 thể hiện số tiền bà Hoàng Thị H vay của ông Nguyễn Hoài N là 500.000.000 đồng, thời gian vay từ ngày 10/02/2020 đến ngày 10/5/2021, các bên không thoả thuận về lãi suất, nguyên đơn cũng đã xác nhận cho bà Hoàng Thị H vay số tiền 500.000.000 đồng không tính lãi. Do đó Hội đồng xét xử xác định đây là hợp đồng vay có kỳ hạn và không có lãi theo quy định tại khoản 1 Điểu 470 của Bộ luật Dân sự. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn xác nhận bà Hoàng Thị H có giao cho ông Nguyễn Hoài N 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP091267, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01717 do Uỷ ban nhân dân thành phố Lào Cai cấp ngày 15/01/2020 mang tên bà Hoàng Thị H để làm tin, các bên không làm hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và cũng không làm thủ tục đăng ký bảo đảm tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án, người làm chứng ông Nguyễn Văn T đã có bản tự khai trình bày về việc ông Nguyễn Văn T có chứng kiến ngày 10/02/2020 tại nhà của ông Nguyễn Hoài N tại thôn Phố Mới 1, xã Trịnh Tường, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai bà Hoàng Thị H có vay của ông Nam số tiền 500.000.000 đồng, giữa các bên có lập giấy vay tiền với nội dung như nguyên đơn ông Nguyễn Hoài N trình bày, ông Nguyễn Văn T có ký vào giấy vay tiền với tư cách là người làm chứng.

Từ những phân tích ở trên xác định giữa ông Nguyễn Hoài N và bà Hoàng Thị H có xác lập giao dịch vay tiền, các bên tham gia hợp đồng đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, việc thỏa thuận vay tiền và lập giấy vay tiền giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc do đó Giấy vay tiền ngày 10/02/2020 là hợp pháp, việc bà Hoàng Thị H vay của ông Nguyễn Hoài N số tiền 500.000.000 là có thật.

Quá trình thực hiện hợp đồng bà Hoàng Thị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, chưa thanh toán cho ông Nguyễn Hoài N số tiền gốc đã vay theo thời hạn đã thoả thuận. Theo quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự quy định:“Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”, do đó nguyên đơn ông Nguyễn Hoài N khời kiện yêu cầu bà Hoàng Thị H phải trả số tiền gốc 500.000.000 đồng đã vay là có căn cứ, cần được chấp nhận.

Nguyên đơn có ý kiến sẽ trả lại cho bà Hoàng Thị H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bà Hoàng Thị H giao cho ông Nguyễn Hoài N để làm tin do đó ông Nguyễn Hoài N có nghĩa vụ trả lại cho bà Hoàng Thị H Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP091267, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01717 do Uỷ ban nhân dân thành phố Lào Cai cấp ngày 15/01/2020 mang tên bà Hoàng Thị H là phù hợp.

Về lãi: Nguyên đơn ông Nguyễn Hoài N không yêu cầu bà Hoàng Thị H phải thanh toán tiền lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Hoàng Thị H phải chịu 24.000.000 (Hai mươi bốn triệu) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463; Điều 470 của Bộ luật Dân sự; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hoài N.

1. Buộc bà Hoàng Thị H phải trả cho ông Nguyễn Hoài N số tiền gốc đã vay là 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng theo Giấy vay tiền ngày 10 tháng 02 năm 2020.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Ông Nguyễn Hoài N phải trả lại cho bà Hoàng Thị H Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP091267, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01717 do Uỷ ban nhân dân thành phố Lào Cai cấp ngày 15/01/2020 mang tên bà Hoàng Thị H.

3. Về án phí: Bà Hoàng Thị H phải chịu 24.000.000 (Hai mươi bốn triệu) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Hoài N không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Nguyễn Hoài N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.000.000 (Mười hai triệu) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001801 ngày 19/10/2022 của Chi cục thi hánh án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ