- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Phạm Thị X - Nguyễn Hồng D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị X. Về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/DS-ST Ngày 18 - 5 - 2023 V/v “T/c hợp đồng vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Văn Hồi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Hòe; Ông Rmah In.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Bông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 181/2022/TLST-DS ngày 24 tháng 11 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2023/QĐST-DS ngày 28 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị X, sinh năm 1970 (có mặt).
Địa chỉ: TDP b, thị trấn Krông K, huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk.
Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng D, sinh năm 2003
Địa chỉ: Thôn M, xã Hòa L, huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là bà Phạm Thị X, trình bày:
Vào ngày 01/6/2022 bà X có cho ông Nguyễn Hồng D vay số tiền 90.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận lãi suất không quá lãi suất do Ngân hàng quy định, thời hạn trả nợ là ngày là 01/11/2022. Hợp đồng cho vay tiền đã được công chứng tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị Mai P – Huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk.
Tuy nhiên, đến nay đã quá thời hạn trả nợ nhưng ông Nguyễn Hồng D vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi. Nay bà X khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Hồng D phải trả cho bà X toàn bộ số tiền gốc là 90.000.000 đồng và nợ lãi tính từ ngày 01/6/2022 đến ngày 01/11/2022 là 05 tháng (90.000.000đ x 5 tháng x 1,5%) với số tiền 6.750.000 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 02/11/2022 trên số nợ gốc với lãi suất 1,5%/tháng.
Bị đơn: ông Nguyễn Hồng D có mặt tại nơi cư trú nhưng không hợp tác nên không thể làm việc được.
Qua xác minh tại chính quyền địa phương: Ông Nguyễn Hồng D hiện vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn M, xã Hòa L, huyện Krông B, ông Nguyễn Hồng D hiện nay đang sinh sống tại địa phương nhưng thường xuyên vắng mặt tại nhà.
Tòa án cũng đã niêm yết công khai Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Tuy nhiên, ông D đều vắng mặt không có lý do, nên không thể tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa hôm nay: nguyên đơn bà X vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Yêu cầu HĐXX xem xét buộc ông Nguyễn Hồng D phải trả cho bà Xoan số tiền nợ gốc là 90.000.000 đồng, hai bên có thỏa thuận lãi suất không quá lãi suất do Ngân hàng quy định nhưng không ghi rõ mức cụ thể nên bà X chỉ yêu cầu tính 10%/năm theo quy định của pháp luật, tính từ ngày 01/6/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm là 18/5/2023 là 11 tháng 18 ngày, lãi suất tính 10%/năm (0,833%/tháng) với số tiền 98.700.000 đồng. Bà X rút một phần yêu cầu tính lãi suất là 0,667%/tháng.
Tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Hồng D vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án theo đúng thẩm quyền, xác định mối quan hệ tranh chấp, những người tham gia tố tụng đúng, đủ; tiến hành thu thập chứng cứ, hoà giải, tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng, chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu Thẩm phán đã chấp hành đúng với quy định tại Điều 48 BLTTDS và tiến hành các hoạt động tố tụng khác khi giải quyết vụ án theo đúng quy định của BLTTDS; Đối với thành phần HĐXX không có thành viên nào thuộc trường hợp phải thay đổi, việc hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục tống đạt được đảm bảo đúng các quy định của BLTTDS về phiên toà sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Hồng D vắng mặt lần thứ hai không có lý do, quyết định hoãn phiên tòa đã được tống đạt, do vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định.
Về nội dung: Nguyên đơn thực hiện quyền khởi kiện, cung cấp đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình; bị đơn cố tình vắng mặt không hợp tác làm việc.
Qua chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do đương sự cung cấp và tòa án thu thập được công khai và kiểm tra tại phiên tòa, qua kết quả tranh luận tại phiên tòa thì có đủ cơ sở xác định ông Nguyễn Hồng D có ký giấy vay của bà X số tiền 90.000.000 đồng, hợp đồng vay tiền các bên tự nguyện ký kết và đã được công chứng tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Mai P, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463; 466; 468; 470 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Hồng D phải trả cho bà Phạm Thị X số tiền nợ gốc là 90.000.000 đồng và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 98.700.000 đồng. Đề nghị đình chỉ xét xử đối với yêu cầu ông Nguyễn Hồng D phải lãi 0,667%/tháng, do nguyên đơn đã rút yêu cầu.
Ông Nguyễn Hồng D phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày và xác nhận của đương sự trước phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở lời trình bày của đương sự cũng như qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về thủ tục tố tụng: Vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa bà Phạm Thị X với ông Nguyễn Hồng D thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Bông theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, do đó Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.
Các văn bản tố tụng và quyết định hoãn phiên tòa đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Vào ngày 01/6/2022 bà X có cho ông Nguyễn Hồng D vay số tiền 90.000.000 đồng. Khi vay hai bên làm hợp đồng vay tiền và có công chứng tại VPCC Nguyễn Thị Mai P, Hai bên thỏa thuận lãi suất không quá lãi suất do Ngân hàng quy định, thời hạn trả nợ là ngày là 01/11/2022.
Tuy nhiên, đến nay đã quá thời hạn trả nợ nhưng ông D vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Mặc dù bà X cũng đã nhiều lần đòi nợ nhưng ông D vẫn cố tình không trả. Nay bà X đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết buộc ông Nguyễn Hồng D trả toàn bộ số tiền gốc là 90.000.000 đồng và lãi suất hai bên thỏa thuận lãi suất không quá lãi suất do Ngân hàng quy định nhưng không ghi cụ thể nên bà X chỉ yêu cầu 10%/năm, tính từ ngày 01/6/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm là 98.700.000 đồng.
Hiện nay ông Nguyễn Hồng D vẫn còn đăng ký hộ khẩu tại thôn M, xã Hòa L, huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk và không có nơi ở nào khác, ông D hiện nay vẫn thực tế sinh sống tại nơi cư trú nhưng thường xuyên vắng nhà, do không làm việc trực tiếp với ông D được nên Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của ông D và tại chính quyền địa phương nhưng ông D cố tình trốn tránh không hợp tác làm việc, như vậy ông D đã tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Đối với hợp đồng vay tiền mà nguyên đơn cung cấp có chữ ký của ông Nguyễn Hồng D, đã được công chứng tại VPCC Nguyễn Thị Mai P nên Tòa án xác định đó là chứng cứ hợp pháp và để chứng minh có việc ông D vay tiền của bà X nên việc bà X khởi kiện là hoàn toàn có căn cứ nên cần được HĐXX chấp nhận. Buộc ông Nguyễn Hồng D phải có trách nhiệm trả cho bà Xoan khoản nợ gốc 90.000.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về lãi suất: Trong hợp đồng vay tiền hai bên thỏa thuận lãi suất không quá lãi suất do Ngân hàng quy định trong giấy vay nợ nhưng không ghi mức cụ thể và ông D không hợp tác để làm việc nên bà X chỉ yêu cầu tính lãi suất 10%/năm là phù hợp với khoản 2 Điều 268 Bộ luật dân sự nên cần chấp nhận và buộc ông D phải trả. Khoản vay ngày 01/6/2022 đến hết ngày 18/5/2023 là 11 tháng 18 ngày: 10% : 12 tháng x 90.000.000 đồng x 11 tháng 18 ngày = 8.700.000 đồng.
Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Nguyễn Hồng D phải trả lãi suất 0,667%/tháng, do nguyên đơn xin rút tại phiên tòa.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm là (98.700.000 đ x 5%) 4.935.000 đồng. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 144, Điều 147, Điều 157, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238 và Điều 241; 266; 267; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mm,
- Áp dụng Điều 463; 466; 468; 470 Bộ luật dân sự.
- Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị X. Về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Buộc ông Nguyễn Hồng D phải có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Thị X tổng số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 18/5/2023 là 98.700.000 đồng (Chín mươi tám triệu bảy trăm nghìn đồng). Trong đó nợ gốc: 90.000.000 đồng; lãi suất tạm tính đến hết ngày xét xử sơ thẩm (18/5/2023) là 8.700.000 đồng.
2. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm; nếu không có thỏa thuận thì theo mức lãi suất 10%/năm tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Theo quy định tại điều 357 và 468 Bộ luật dân sự.
3. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Hồng D phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm 4.935.000 đồng (Bốn triệu chín trăm ba mươi lăm nghìn đồng). Nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Bông.
Trả lại cho bà Phạm Thị X số tiền 2.419.000đ (Hai triệu bốn trăm mười chín nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Bông theo biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số: 0013307 ngày 21/11/2022.
4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản bán được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND H Krông Bông; - THADS H Krông Bông; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Văn Hồi |