- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Phạm Văn V"
- Tòa quyết gì? Kh ng chấp nhận yêu cầu kh i kiện của ng Phạm Văn V và bà Nguyễn Thị H về yêu cầu chia đ i thửa đất số 94C, tờ bản đồ số 50, diện tích 240m2, tại tổ dân phố Tân Phong, ph ờng K, thị xã Kỳ Anh, đ ợc Ủy ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất theo giấy chứng nhận…
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố t ng dân sự; Điều 157 Bộ luật tố t ng dân sự; Điều 165 Bộ luật tố t ng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2023/DS-PT Ngày: 14 - 02 -2023 V/v Chia tài sản chung là Quyền sử d ng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Đức Quang
Các Thẩm phán:
Bà Trần Thị Thu Hiền
Bà Trịnh Thị Thiện
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Khánh Chi - Th k Tòa án Tòa án nhân dân t nh Hà T nh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quyết - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2023, tại hội tr ờng xét xử Tòa án nhân dân t nh Hà T nh, m phiên tòa xét xử ph c th m c ng khai v án dân sự th l số: 18/TBTL-TA ngày 02 tháng 11 năm 2022 về việc “Chia tài sản chung là quyền sử dụng đất” theo Quyết định đ a v án ra xét xử số 18/2022/QĐ-PT ngày 13 tháng 12 năm 2022 và Thông báo về việc m lại phiên toà số 03/TB-TA ngày 02 tháng 02 năm 2023, giữa các đ ơng sự:
* Nguyên đơn: Ông Phạm Văn V, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1963. Địa ch : Th n X, xã K, huyện K, t nh Hà T nh. (Có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu L - Luật s – Văn phòng luật s T, thuộc Đoàn Luật s t nh Nghệ An. Địa ch : 68B, Tr ơng Văn L, Nghi P, thành phố V, t nh Nghệ An. (Có mặt)
* Bị đơn: Ông T Ngọc M, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1960. Địa ch : Th n X, xã K, huyện K, t nh Hà T nh, (Vắng mặt)
Ng ời đại diện theo ủy quyền cho ng T Ngọc M và bà Nguyễn Thị T: Ông Nguyễn Xuân L, sinh năm 1987. Địa ch : Tổ dân phố 2, ph ờng H, thị xã K, t nh Hà T nh. (Có mặt)
* Người làm chứng: Ông V ơng Đình N, sinh năm 1974. Địa ch : Tổ dân phố T, ph ờng K, thị xã K, t nh Hà T nh. (Vắng mặt)
* Người kháng cáo: Nguyên đơn ng Phạm Văn V và bà Nguyễn Thị H; bị đơn ng T Ngọc M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 06/5/2021, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Phạm Văn V và bà Nguyễn Thị H trình bày:
Trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2004 (vì thời gian làm thủ t c kéo dài) vợ chồng ng V nh và vợ chồng ông Tô Ngọc M, bà Nguyễn Thị T cùng chung nhau mua một thửa đất với số tiền 55.000.000 đồng (Năm m ơi lăm triệu đồng) diện tích 240m2 (rộng 10m, dài 24m), thửa đất số 94c, tờ bản đồ số 50, địa ch thửa đất: Xóm 11, xã K, huyện K, t nh Hà T nh (nay là tổ dân phố T, ph ờng K, thị xã K, t nh Hà T nh). Mảnh đất này mua của gia đình ng V ơng Đình N (Giấy chuyển nh ợng đất, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã K ngày 24/10/2000, có phần chữ viết tay cam kết mua chung thửa đất của ông Tô Ngọc M ngày 13/5/2004). Đây là tài sản đồng s hữu của hai gia đình và thỏa thuận thống nhất khi ra sổ thì để vợ chồng ông Tô Ngọc M và bà Nguyễn Thị T đứng tên. Ngày 25/9/2009, Uỷ ban nhân dân huyện K cấp giấy CNQSD đất số AQ124143 đối với thửa đất số 94c, tờ bản đồ số 50, diện tích 240m2 địa ch thửa đất: Xóm 11, xã K, huyện K, t nh Hà T nh (nay là tổ dân phố T, ph ờng K, thị xã K, t nh Hà T nh), số vào sổ cấp giấy CNQSD đất: H-00029 cho vợ chồng ông Tô Ngọc M và bà Nguyễn Thị T.
Hai bên xác lập thỏa thuận tài sản chung, theo đó mỗi bên đ ợc h ng ½ giá trị thửa đất. Tuy nhiên gần đây ng T Ngọc Miên và bà Nguyễn Thị Thủy lại muốn toàn quyền quyết định, định đoạt đối với thửa đất này, không thực hiện đ ng thỏa thuận khi góp tiền mua đất.
Nay ông Phạm Văn V và bà Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã K áp d ng Điều 208, 209, 219 Bộ luật dân sự năm 2015 chia đ i tài sản chung là quyền sử d ng đất cho các đồng s hữu cho vợ chồng ông Phạm Văn V, bà Nguyễn Thị H và vợ chồng ông Tô Ngoc M, bà Nguyễn Thị T, chia theo hiện vật, mỗi bên nhận ½ diện tích đối với thửa đất đ ợc cấp giấy CNQSD đất số AQ124143 đối với thửa đất số 94c, tờ bản đồ số 50, diện tích 240m2 địa ch thửa đất: Xóm 11, xã K, huyện Kỳ, t nh Hà T nh (nay là tổ dân phố T, ph ờng K, thị xã K, t nh Hà T nh), số vào sổ cấp giấy CNQSD đất: H-00029 cho vợ chồng ông Tô Ngọc M và bà Nguyễn Thị T.
Bị đơn ông Tô Ngọc M trình bày: Năm 2000 gia đình ng nhận chuyển nh ợng của ng V ơng Đình N thửa đất số 94c, tờ bản đồ số 50, diện tích 240m2 địa ch thửa đất: Xóm 11, xã K, huyện K, t nh Hà T nh (nay là tổ dân phố T, ph ờng K, thị xã K, t nh Hà T nh). Quá trình chuyển nh ợng vợ chồng ông V không biết. Đến năm 2004 ng đến gặp ông Phạm Văn V (vì ông V có hiểu biết về l nh vực bất động sản để nhờ ông V t vấn một số vấn đề liên quan đến thửa đất). Khi đó ng M có cầm theo bản photo giấy chuyển nh ợng đất ra gặp ông V, thì ông V có xin góp chung tiền để mua thửa đất này, do đó ông M đồng ý và viết vào phía d ới giấy chuyển nh ợng đất bản photo với nội dung (Diện tích đất trên 240 mét vuông (hai trăm bốn chục mét vuông) M và V (H) chung số tiền 55.000.000 đồng. Giấy này làm cơ sở mỗi người một bản. K, ngày 13/5/2004, người viết giấy Tô Ngọc M). Lúc viết giấy ông M có nói viết giấy đây nh ng để hỏi vợ là bà Nguyễn Thị T đã, khi ng M về hỏi bà T thì bà T kh ng đồng ý việc cho vợ chồng ông V góp chung thửa đất. Và thực tế giữa hai bên không giao nhận tiền gì cho nhau, nên ông M không chấp nhận với yêu cầu kh i kiện của vợ chồng ông Phạm Văn V nh và bà Nguyễn Thị H.
Bị đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Năm 2000, bà nhận chuyển nh ợng thửa đất nh ợng của ng V ơng Đình N thửa đất số 94c, tờ bản đồ số 50, diện tích 240m2 địa ch thửa đất: Xóm 11, xã K, huyện K, t nh Hà T nh (nay là tổ dân phố T, ph ờng K, thị xã K, t nh Hà T nh). Thời gian làm thủ t c kéo dài, nên đến năm 2009 mới đ ợc cấp giất chứng nhận quyền sử d ng đất. Việc nhận chuyển nh ợng đất này hoàn toàn là tiền riêng của bà T, bà T không hề biết việc thỏa thuận chung tiền mua đất giữa ông M và ông V. Khi ông M đề cập vấn đề này bà kh ng đồng ý và yêu cầu ông M đi lấy lại giấy về. Còn phía vợ chồng ông V bà H kh ng trao đổi hay bàn bạc với bà T về vấn đề chung tiền để mua thửa đất. Bà T không chấp nhận với yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn.
Người làm chứng Vương Đình N trình bày: Năm 2000, gia đình ng chuyển nh ợng cho ông Tô Ngọc M và bà Nguyễn Thị T xã K, huyện K, t nh Hà T nh thửa đất số 94c, tờ bản đồ số 50, diện tích 240m2 địa ch thửa đất: Xóm 11, xã K, huyện K, t nh Hà T nh (nay là tổ dân phố T, ph ờng K, thị xã K, t nh Hà T nh). Quá trình chuyển nh ợng ch có mình ông N và ông Tô Ngọc M ký kết các giấy tờ và giao nhận số tiền chuyển nh ợng là 55.000.000 đồng, khi làm các thủ t c ông M viết tên bên ng ời nhận chuyển nh ợng là bà T (vợ ông M), quá trình chuyển nh ợng đất ông N không giao dịch với bà Thủy cũng nh vợ chồng ông V bà H, nên việc hai bên kh i kiện tranh chấp đất đai ng kh ng liên quan gì.
Tại Bản án dân sự sơ th m số 03/2022/DS-ST ngày 28/9/2022 của Tòa án nhân dân thị xã K, t nh Hà T nh:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 166, Điều 235, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố t ng dân sự; Điều 208, Điều 219 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 98 Luật đất đai năm 2013; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng v Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án; Danh m c án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết;
Tuyên xử:
1. Kh ng chấp nhận yêu cầu kh i kiện của ng Phạm Văn V và bà Nguyễn Thị H về yêu cầu chia đ i thửa đất số 94C, tờ bản đồ số 50, diện tích 240m2, tại tổ dân phố Tân P, ph ờng K, thị xã K, đ ợc Ủy ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất theo giấy chứng nhận số AQ 124143, số vào sổ H 00029 ngày 25/9/2009 mang tên Nguyễn Thị T và T Ngọc M;
Ông T Ngọc M có trách nhiệm đ a lại cho ng Phạm Văn V và bà Nguyễn Thị H số tiền bằng ½ giá trị tài sản mà ng T Ngọc M đ ợc h ng trong tài sản chung của vợ chồng là quyền sử d ng đất mà nguyên đơn đang yêu cầu chia đ i, c thể số tiền: 381.000.000đ (Ba trăm tám mốt triệu đồng)
Bản án còn tuyên về án phí, lệ phí tố t ng và quyền kháng cáo của các đ ơng sự theo quy định của pháp luật.
- Ngày 10/10/2022 nguyên đơn ng Phạm Văn V và bà Nguyễn Thị H kháng cáo với nội dung yêu cầu cấp ph c th m:
+ Xem xét sửa bản án sơ th m theo h ớng c ng nhận quyền sử d ng đất thửa đất số 94c, tờ bản đồ số 59, địa ch : Xóm 11, xã K, huyện K, t nh Hà T nh (nay là tổ dân phố T, ph ờng K, thị xã K, t nh Hà T nh) là tài sản chung của vợ chồng ng Phạm Văn V, bà Nguyễn Thị H với vợ chồng ng T Ngọc M, bà Nguyễn Thị T.
+ Buộc ng T Ngọc M, bà Nguyễn Thị T chia quyền sử d ng ½ thửa đất nói trên cho vợ chồng nguyên đơn.
- Ngày 11/10/2022 bị đơn ng T Ngọc M kháng cáo với nội dung:
+ Không có chứng cứ để buộc ng T Ngọc M phải thanh toán cho ng Phạm Văn V và bà Nguyễn Thị H số tiền 381.000.000 đồng.
- Cấp sơ th m vi phạm thủ t c tố t ng:
+ Kh ng tuyên quyền kháng cáo đối với bị đơn bà Nguyễn Thị T, Luật s bào chữa của nguyên đơn có mặt nh ng bản án ghi vắng mặt.
+ Q a trình định giá tài sản ch a đ ợc thực hiện theo đ ng quy định của pháp luật.
+ Trong hồ sơ v án thể hiện lời khai của các đ ơng sự có mâu thuẫn nhau, nh ng Th m phán đ ợc phân c ng kh ng cho các đ ơng sự đối chất để làm rõ mâu thuẫn.
+ Trong bản án sơ th m ghi kh ng đ ng số, ngày tháng, năm của Quyết định đ a v án ra xét xử.
Với những nội dung trên bị đơn ng T Ngọc M yêu cầu cấp ph c th m tuyên hủy bản án sơ th m số 03/2022/DS-ST ngày 28/9/2022 của Tòa án nhân dân thị xã K, t nh Hà T nh.
Tại phiên tòa ph c th m nguyên đơn ng Phạm Văn V và bà Nguyễn Thị H vẫn giữ nguyên nội dung kh i kiện và nội dung kháng cáo.
Ng ời đại diện theo ủy quyền của bị đơn xin r t nội dung kháng cáo về trình tự thủ t c định giá tài sản và nhất trí với kết quả định giá của cấp sơ th m, đồng thời vẫn giữ nguyên kháng cáo đối với các nội dung khác. Sau khi phân tích các tình tiết của v án đề nghị Hội đồng xét xử kh ng chấp nhận kh i kiện và kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ th m bác yêu cầu kh i kiện và kháng cáo của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Hà T nh sau khi phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Th m phán, Hội đồng xét xử, Th k phiên tòa và các đ ơng sự đã phân tích đánh giá các chứng cứ của v án, quyết định của bản án sơ th m, nội dung đơn kháng cáo của nguyên đơn đã đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng khoản 1 Điều 308 của BLTTDS, kh ng chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Phạm Văn V và bà Nguyễn Thị H và kháng cáo của bị đơn ng T Ngọc M. Giữ nguyên bản án sơ th m số 03/2022/DS-ST ngày 28/9/2022 của Tòa án nhân dân thị xã K, t nh Hà T nh.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đ ợc th m tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ s xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, kiến của Kiểm sát viên và các đ ơng sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ tranh chấp và th m quyền giải quyết: Nguyên đơn kh i kiện về việc Chia quyền sử d ng đất, đây là tranh chấp quyền s hữu tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật tố t ng dân sự; thửa đất đang tranh chấp có địa ch tại ph ờng K, thị xã K, t nh Hà T nh. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố t ng dân sự, Tòa án nhân thị xã K, t nh Hà T nh th l giải quyết v án là đ ng th m quyền và xác định đ ng quan hệ pháp luật tranh chấp.
Xét kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn:
Về tố t ng: Xét kháng cáo của bị đơn về việc cấp sơ th m vi phạm thủ t c tố t ng trong quá trình xét xử v án:
Về nội dung ông M cho rằng cấp sơ thẩm vi phạm các quy định của pháp luật trong quá trình định giá tài sản, xét thấy: Tại biên bản định giá tài sản đề ngày 20/08/2021 có thiếu sót là không ghi đầy đủ các nội dung theo mẫu Biên bản định giá kèm theo Nghị Quyết số 01/2017/NQHĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng th m phán Tòa án nhân dân tối cao. Tuy nhiên căn cứ Biên bản định giá tài sản ngày 20/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản thể hiện: Về kết quả định giá: Giá đất của thửa đất số 94c, tờ bản đồ số 50, diện tích 240m2 tại tổ dân phố Tân Phong, ph ờng K, thị xã K, đ ợc UBND huyện Kỳ Anh cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất sô AQ 124143, số vào sổ H 00029 ngày 25/9/2009 mang tên Nguyễn Thị T và Tô Ngọc M mức giá: 6.350.000đồng/m2. Tổng giá trị thửa đất = 1.524.000.000đồng. Tất cả các thành viên Hội đồng định giá đã nhất trí ký vào biên bản định giá. Quá trình định giá tài sản Hội đồng định giá tài sản đã Lập ph ơng án xây dựng giá đất c thể, tiến hành lập phiếu khảo sát giá đối với 03 thửa đất có vị trí t ơng ứng để so sánh, đánh giá và xác định giá trị đối với thửa đất cần định giá, do đó xét thấy kết quả định giá là có căn cứ. Mặt khác tại phiên tòa phúc th m ng ời đại diện theo ủy quyền của bị đơn r t kháng cáo đối với nội dung này nên kết quả định giá của cấp sơ th m là phù hợp.
Đối với nội dung kháng cáo bản án sơ thẩm không tuyên quyền kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T, thấy rằng: Việc cấp sơ th m không tuyên quyền kháng cáo đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa là thiếu sót, tuy nhiên trong v án này bà Nguyễn Thị T đã có văn bản ủy quyền cho ông Tô Ngọc M (Văn bản ngày 09/9/2022) trong đó ghi rõ nội dung: Ông M … có quyền tham gia tố t ng (bao gồm phiên tòa sơ th m, phúc th m…) thi hành án, để giải quyết những vấn đề tranh chấp…Thời hạn ủy quyền 05 (năm) năm hoặc chấm dứt theo quy định của pháp luật. Nh vậy, mặc dù cấp sơ th m có thiếu sót là không tuyên quyền kháng cáo của bà T nh ng theo quy định của pháp luật bà Nguyễn Thị T vẫn có quyền kháng cáo, mặt khác bà Thủy đã ủy quyền cho ông Tô Ngọc M đại diện tham gia tố t ng nên ông M có quyền thay mặt bà T kháng cáo bản án sơ th m. Do đó, quyền kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị T vẫn đ ợc đảm bảo theo quy định của pháp luật.
Đối với nội dung kháng cáo bản án sơ thẩm không ghi đúng Quyết định đưa vụ án ra xét xử: Căn cứ hồ sơ v án thể hiện ngày 09/8/2021 Tòa án nhân dân thị xã K ban hành Quyết định đ a v án ra xét xử số 24/2021/QĐXXST-DS ấn định thời gian xét xử v án vào hồi 07 giờ 00 phút ngày 26/8/2021. Tuy nhiên ông Tô Ngọc M có đơn xin hoãn phiên tòa nên Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên Tòa, sau đó Tòa án nhân dân thị xã K tiếp t c nhiều lần m phiên tòa nh ng do các đ ơng sự vắng mặt; đ ơng sự, Luật s có đơn xin hoãn phiên tòa; Th m phán, Th k bị mắc Covid19…nên phiên tòa tiếp t c hoãn nhiều lần. Ngày 06/5/2022 Tòa án nhân dân thị xã K ban hành Quyết định tạm đình ch giải quyết v án dân sự số 02/2022/QĐST-DS với lý do: Cần đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu chứng cứ. Ngày 16/06/2022 Tòa án nhân dân thị xã K ban hành Quyết định số 01/2022/QĐST-DS về việc tiếp t c giải quyết v án dân sự và ngày 18/07/2022 Tòa nhân dân thị xã K ban hành quyết định đ a v án ra xét xử số 03/2022/QĐXXST-DS ấn định thời gian xét xử v án vào hồi 14 giờ 00 phút, ngày 02/8/2022, sau đó phiên tòa tiếp t c hoãn 02 lần do đ ơng sự xin hoãn phiên tòa, phiên tòa tiếp t c đ ợc m lại vào các ngày 21/9/2022 và ngày 28/9/2022. Xét thấy, việc bản án sơ th m ghi Quyết định đ a v án ra xét xử số 24/2021/QĐXXST-DS ngày 09/8/2021 phần đầu bản án là ch a đ ng quy định của pháp luật, vì v án đã đ ợc tạm đình ch , sau đó có Quyết định tiếp t c giải quyết v án và cấp sơ th m tiếp t c ban hành Quyết định đ a v án ra xét xử số 03/2022/QĐXXST-DS ngày 18/7/2022, lẽ ra trong bản án phải ghi thành Quyết định đ a v án ra xét xử số 03/2022/QĐXXST-DS ngày 18/7/2022. Tuy nhiên, xét thiếu sót này kh ng làm thay đổi nội dung, bản chất của v án, vì vậy cấp sơ th m cần nghiêm túc rút kinh nghiệm trong quá trình giải quyết các v án.
Đối với nội dung kháng cáo quá trình giải quyết vụ án cấp sơ thẩm không tiến hành cho đối chất giữa các đương sự, người làm chứng để làm rõ các mâu thuẫn trong lời khai, xét thấy: Quá trình giải quyết v án Tòa án cấp sơ th m đã tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ lấy lời khai của các đ ơng sự, ng ời làm chứng; yêu cầu các đ ơng sự, cơ quan tổ chức cung cấp chứng cứ; xem xét th m định tại chỗ, định giá tài sản; giám định chữ ký, chữ viết của đ ơng sự. Thông qua biên bản lấy lời khai, các buổi hòa giải, quá trình tranh t ng tại phiên tòa cấp sơ th m đã làm rõ các mâu thuẫn có trong lời khai của đ ơng sự, ng ời làm chứng, vì vậy việc tổ chức cho các đ ơng sự đối chất là không cần thiết.
Về nội dung:
Xét về nguồn gốc đất: Thửa đất số 94c, tờ bản đồ số 50, diện tích 240m2 tại địa ch Xóm 11, xã K, huyện K, t nh Hà T nh (nay thuộc tổ dân phố T, ph ờng K, thị xã K, t nh Hà T nh) đ ợc Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 25/9/2009 mang tên Nguyễn Thị T và T Ngọc M có nguồn gốc do bà Nguyễn Thị T và ông T Ngọc M mua của ng V ơng Đình N vào năm 2000 với giá 55.000.000 đồng. Giấy chuyển nh ợng đất có sự xác nhận của Ủy ban nhân dân xã K xác nhận vào ngày 24/10/2004. Vào thời điểm mua thửa đất này thì ch a đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất. Ng ời làm chứng ng V ơng Đình N xác nhận quá trình mua bán giao dịch chuyển nh ợng thửa đất thì ng T Ngọc M là ng ời trực tiếp giao dịch với ng V ơng Đình N và kh ng có sự xuất hiện của bà Nguyễn Thị T cũng nh ng Phạm Văn V hay bà Nguyễn Thị H. Sau khi viết giấy chuyển nh ợng đất thì ng T Ngọc M là ng ời trực tiếp trả tiền và ng V ơng Đình N bàn giao đất. Quá trình giao dịch chuyển nh ợng đất ng V ơng Đình N cũng kh ng biết việc góp tiền mua chung đất của ng Phạm Văn V. Nh vậy, qua lời khai ng ời làm chứng V ơng Đình N xác định thời điểm mua bán đất ch có ng T Ngọc M giao dịch và xác nhận kh ng có sự tham gia giao dịch với bà Nguyễn Thị T hay vợ chồng ng Phạm Văn V.
Căn cứ kết quả xem xét th m định tại chỗ ngày 20 tháng 8 năm 2021: Thửa đất đang tranh chấp đ ợc Ủy ban nhân dân huyện K, t nh Hà T nh cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số AQ 124143, số vào sổ cấp GCN: H0029 mang tên Nguyễn Thị T và T Ngọc M tại thửa đất số 94c, tờ bản đồ số 50, diện tích 240m2, địa ch tại xóm 11, xã Kỳ T, huyện K, t nh Hà T nh (nay là tổ dân phố T, ph ờng K, thị xã K, t nh Hà T nh. Thửa đất có sơ đồ vị trí c thể nh sau: Phía Đ ng dài 10m giáp quốc lộ 1A; phía Bắc dài 24m giáp đất ng D; phía Nam dài 24m giáp đất ng D; phía Tây dài 10m giáp đất ông D. Đất kh ng có tranh chấp với các hộ liền kề.
Kết quả định giá: Giá đất của thửa đất số 94C, tờ bản đồ số 50, diện tích 240m2, tại tổ dân phố T, ph ờng K, thị xã K, đ ợc Ủy ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất theo giấy chứng nhận số AQ 124143, số vào sổ H 00029 ngày 25/9/2009 mang tên Nguyễn Thị T và T Ngọc M mức giá: 6.350.000 đồng/m2. Tổng giá trị thửa đất = 1.524.000.000đ (Một tỷ, năm trăm hai t triệu đồng).
[ 2.2.3] Xét yêu cầu kh i kiện và kháng cáo của nguyên đơn về việc yêu cầu chia đ i thửa đất số 94c, tờ bản đồ số 50, diện tích 240m2 tại địa ch Xóm 11, xã K, huyện K, t nh Hà T nh (nay thuộc tổ dân phố T, ph ờng K, thị xã K, t nh Hà T nh), giấy chứng nhận số AQ 124143, số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSD đất H-00029 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 25/9/2009 mang tên Nguyễn Thị T và T Ngọc M: Tài liệu duy nhất nguyên đơn cung cấp là bản photo giấy chuyển nh ợng đất giữa ng V ơng Đình N và bà Nguyễn Thị T phía d ới có chữ viết tay bằng mực màu xanh do ng T Ngọc M viết với nội dung “Diện tích đất trên 240 mét vuông, Miên và V (H) chung số tiền 55.000.000đ. Giấy này làm cơ sở mỗi người một bản. Kỳ T ngày 13/5/2004, người viết giấy Tô Ngọc M”, ngoài ra không cung cấp đ ợc tài liệu, chứng cứ gì khác để chứng minh là ng ời đã góp vốn chung mua thửa đất trên, trong quá trình giải quyết v án cũng nh tại phiên tòa, nguyên đơn thừa nhận kể từ khi hai bên góp tiền mua chung đất cho đến khi hoàn tất thủ t c cấp giấy chứng nhân quyền sử d ng đất vì quá tin t ng nhau trong làm ăn nên nguyên đơn ch đ a số tiền góp chung mua đất cho ng Miên sau khi ng Miên viết giấy làm tin, hai bên kh ng lập văn bản thỏa thuận để cho một bên vợ chồng ng M và bà T đứng tên trong hợp đồng chuyển nh ợng cũng nh giấy chứng nhận quyền sử d ng đất. Nguyên đơn cho rằng văn bản do ng T Ngọc M viết ngày 13/5/2004 đ a cho nguyên đơn giữ là căn cứ thể hiện việc giữa Nguyên đơn và ông T Ngọc M góp tiền mua mảnh đất trên, nên Nguyên đơn kh i kiện để chia tài sản chung là quyền sử d ng đất nh ng M và nguyên đơn đã thỏa thuận với nhau.
Xét về nội dung ng T Ngọc M viết vào sau giấy chuyển nh ợng đất (bản photo) thấy rằng: Về thời gian viết cách 03 năm 06 tháng sau khi ng T Ngọc M và bà Nguyễn Thị T giao dịch mua bán đất với ng V ơng Đình N (Ủy ban xã K xác nhận trên giấy chuyển nh ợng ngày 18/10/2000, nội dung văn bản chung tiền mua đất do ng M viết vào ngày 13/5/2004). Về nội dung đ ợc viết mặt sau của giấy chuyển nh ợng photo kh ng viết c thể thửa đất số mấy, nằm vị trí nào, địa ch đâu ch viết diện tích đất trên 240 mét vu ng, M và V (H) chung số tiền 55.000.000 đồng. Quá trình giải quyết v án nguyên đơn kh ng chứng minh đ ợc việc mình đã góp ½ số tiền (27.500.000đồng) cùng bị đơn mua thửa đất trên. Bị đơn T Ngọc M thừa nhận chữ viết và chữ k trên giấy chuyển nh ợng đất (bản photo) là chữ viết và chữ k của mình và cũng thừa nhận thời điểm đó ông M đồng cho Nguyên đơn góp tiền mua chung thửa đất nh ng sau đó ng T Ngọc M ngh rằng đây là tài sản chung của vợ chồng nên đã về hỏi lại ý kiến vợ là bà Nguyễn Thị T thì bà T kh ng đồng nên ng M có thông báo cho Nguyên đơn nh ng lại kh ng r t giấy viết về việc góp chung tiền mua đất mà nguyên đơn đang giữ về, đồng thời ông Tô Ngoc M kh ng thừa nhận việc đã nhận số tiền 27.500.000đồng từ ng Phạm Văn V.
Quá trình giải quyết v án bà Nguyễn Thị T cho rằng thửa đất đang tranh chấp là do bà bỏ tiền riêng của mình ra để mua của ng V ơng Đình N, ông Tô Ngọc M kh ng có quyền quyết định việc cho vợ chồng ng V góp tiền chung thửa đất trên khi kh ng có kiến của bà, nên bà Nguyễn Thị T kh ng chấp nhận yêu cầu kh i kiện chia đ i thửa đất của ng V và bà H là có cơ s .
Từ những nhận định trên không đủ cơ s để xác định thửa đất số 94c, tờ bản đồ số 50, diện tích 240m2 tại địa ch Xóm 11, xã K, huyện K, t nh Hà T nh (nay thuộc tổ dân phố T, ph ờng K, thị xã K, t nh Hà T nh), giấy chứng nhận số AQ 124143 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 25/9/2009 mang tên Nguyễn Thị T và T Ngọc M là tài sản chung của nguyên đơn và Bị đơn.
Vì vậy, việc nguyên đơn đề nghị áp d ng Điều 208, Điều 209, Điều 219 Bộ luật dân sự yêu cầu chia đ i tài sản chung đối với thửa đất nêu trên là không có căn cứ để chấp nhận, nên kh ng có căn cứ đê chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn.
Đối với việc ng T Ngọc M thừa nhận cho ng Phạm Văn V và bà Nguyễn Thị H chung tiền mua thửa đất đ ợc thể hiện bằng văn bản do ông M tự viết (Diện tích đất trên 240 mét vuông (hai trăm bốn chục mét vuông) M và V (H) chung số tiền 55.000,000 đồng. Giấy này làm cơ sở mỗi người một bản. K, ngày 13/5/2004, người viết giấy Tô Ngọc M), mặc dù kh ng có căn cứ để chia đ i thửa đất cho nguyên đơn nh yêu cầu kh i kiện. Nh ng xét về bản chất của sự việc thì ông Tô Ngọc M phải chịu trách nhiệm trong việc đã chấp thuận cho nguyên đơn góp tiền chung thửa đất, căn cứ vào phần giá trị tài sản mà ng Miên đ ợc h ng trong quyền sử d ng đất mang tên Nguyễn Thị T và T Ngọc M. Do vậy, việc cấp sơ th m buộc ông Tô Ngọc M phải chịu trách nhiệm trả cho nguyên đơn khoản tiền 381.000.000đồng, bằng ½ giá trị tài sản mà ng T Ngọc M đ ợc h ng trong tài sản chung của ng M và bà T là quyền sử d ng đất nói trên là hợp l .
Về án phí, lệ phí: Do yêu cầu chia đ i tài sản chung là quyền sử d ng đất kh ng đ ợc chấp nhận nên nguyên đơn chịu án phí dân sự sơ th m kh ng có giá ngạch và án phí số tiền đ ợc h ng theo quy định, ngoài ra nguyên đơn phải chịu lệ phí xem xét th m định, định giá và lệ phí giám định.
Nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí ph c th m theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố t ng dân sự: Kh ng chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn ng Phạm Văn V và bà Nguyễn Thị H; kh ng chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn ng T Ngọc M. Giữ nguyên bản án sơ th m số 03/2022/DS-ST ngày 28/09/2022 của Tòa án nhân dân thị xã K, t nh Hà T nh.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 166, Điều 235, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố t ng dân sự; Điều 208, Điều 219 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 98 Luật đất đai năm 2013; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng v Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án; Danh m c án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết;
Tuyên xử:
1. Kh ng chấp nhận yêu cầu kh i kiện của ng Phạm Văn V và bà Nguyễn Thị H về yêu cầu chia đ i thửa đất số 94C, tờ bản đồ số 50, diện tích 240m2, tại tổ dân phố Tân Phong, ph ờng K, thị xã Kỳ Anh, đ ợc Ủy ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất theo giấy chứng nhận số AQ 124143, số vào sổ H 00029 ngày 25/9/2009 mang tên Nguyễn Thị T và T Ngọc M;
Ông T Ngọc M có trách nhiệm đ a lại cho ng Phạm Văn V và bà Nguyễn Thị H số tiền bằng ½ giá trị tài sản mà ng T Ngọc M đ ợc h ng trong tài sản chung của vợ chồng là quyền sử d ng đất mà nguyên đơn đang yêu cầu chia đôi, c thể số tiền: 381.000.000 đồng (Ba trăm tám mốt triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các tr ờng hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu của ng ời đ ợc thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho ng ời đ ợc thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự, trừ tr ờng hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí:
- Án phí sơ th m: Ông Phạm Văn V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ th m kh ng có giá ngạch và 19.050.000 đồng (M ời chín triệu, kh ng trăm năm m ơi ngàn đồng) án phí trên số tiền đ ợc h ng nh ng đ ợc trừ số tiền 20.000.000 đồng (Hai m ơi triệu đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2016/0007166 ngày 20/5/2021 do Chi c c thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh phát hành. Ông Phạm Văn V đ ợc trả lại số tiền 650.000 đồng (Sáu trăm năm m ơi ngàn đồng) tạm ứng án phí sơ th m đã nộp.
- Án phí ph c th m: Ông Phạm Văn V, bà Nguyễn Thì H phải chịu 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự ph c th m, nh ng đ ợc trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0014510 ngày 17/10/2022 của Chi c c thi hành án dân sự thị xã K. Ông Tô Ngọc M phải chịu 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự ph c th m, nh ng đ ợc trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0014509 ngày 14/10/2022 của Chi c c thi hành án dân sự thị xã K, t nh Hà T nh.
3. Về lệ phí: Ông Phạm Văn V phải chịu toàn bộ lệ phí xem xét th m đinh, định giá tài sản và lệ phí giám định.
Bản án ph c th m có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND t nh Hà T nh; - Các đ ơng sự; - TA, VKS , THA cấp sơ th m; - L u HSVA, Toà DS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Đức Quang |