vanban.org

Bản án 03/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 13/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phùng Quốc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Phùng Quốc T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng tính từ ngày 13/01/2022. Giao bị cáo Phùng Quốc T cho Ủy ban nhân dân phường Tây S, thành phố P, tỉnh Gia Lai để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Quốc T phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phùng Quốc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2022/HSST
Ngày 13 - 01 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thu

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Quách Đình Hoằng

2. Bà Lê Thị Toan

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nhớ - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Thái Bình - Kiểm sát viên.

[

Ngày 13 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 171/2021/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 193/2021/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2021, đối với bị cáo:

Phùng Quốc T, sinh năm: 1993 tại Gia Lai; nơi cư trú: Tổ 6, phường Tây S, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: sửa chữa điện thoại; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn H, sinh năm: 1972 và con bà Trần Thị L, sinh năm 1974; vợ Phan Thị Kim N, có 01 con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/6/2021 cho đến nay. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.

* Bị hại: Anh Nguyễn Duy Hoàng A, sinh năm 2003 (đã chết). Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1979; địa chỉ: 245/7 Nguyễn Tất T, tổ 7, phường Phù Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Phùng Quốc T: Ông Thiều Hữu M – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Gia Lai; địa chỉ: Số 46 Lê Thánh T, phường Ia K, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Lê Thanh B, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ 4, phường Hội P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

- Anh Lương Duy T, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ 1, phường Trà B, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

- Ông Hồ Thành T, sinh năm 1970; Địa chỉ: Tổ 2, phường Hội T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

- Anh Hồ Nhật M, sinh năm 2003; Địa chỉ: Tổ 2, phường Hội T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

- Ông Phùng Văn H, sinh năm 1972; Địa chỉ: Số 2/28 Trần Hưng Đ, tổ 6, phường Tây S, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

- Bà Trần Thị L, sinh năm 1974; Địa chỉ: Số 2/28 Trần Hưng Đ, tổ 6, phường Tây S, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

* Người làm chứng: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn Phố H, xã Ia L, huyện Chư P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phùng Quốc T có giấy phép lái xe hạng B2. Vào khoảng 20 giờ ngày 02/3/2021, T cùng với Lê Thanh B (sinh năm 1993, trú tại: Tổ 4, phường Hội P, thành phố P, tỉnh Gia Lai) và Nguyễn Tam M (sinh năm 1999, trú tại: Tổ 6, phường Tây S, thành phố P, tỉnh Gia Lai) ngồi nhậu tại nhà T ở số 10 đường Ama Q, Tổ 8, phường Tây S, thành phố P, tỉnh Gia Lai), đến khoảng 23 giờ thì nghỉ, T đã uống từ 4-5 lon bia. Sau khi dọn dẹp xong, M lên phòng đi ngủ, T rủ B đi ăn khuya, B đồng ý, T điều khiển xe ô tô biển số 81A-200.93 chở B ngồi ở ghế phụ với mục đích là tìm quán ăn. Đến khoảng 0 giờ 20 phút ngày 03/3/2021, T điều khiển xe ô tô 81A-200.93 lưu thông trên đường Trần Hưng Đ hướng từ Quảng Trường Đại đoàn kết đi Bưu điện tỉnh Gia Lai, với tốc độ khoảng 55-60km/h (theo lời T khai). Khi đến ngã tư đường Trần Hưng Đ - Quang T thuộc Tổ 2, phường Hội T, TP. Pleiku, T. Gia Lai, T thấy đèn tín hiệu là đèn màu vàng nhấp nháy nhưng T không giảm tốc độ; đồng thời, T quay mặt sang phải để quan sát xe đi từ hướng đường Hai Bà T đến. Khi T quay lại thì thấy Nguyễn Duy Hoàng A điều khiển xe mô tô biển số 81F1-1257 lưu thông theo hướng từ đường Quang T đi đường Hai Bà T đến nên xe ô tô của T đã va chạm với xe mô tô của Hoàng A, làm xe mô tô và Hoàng A ngã xuống đường bất tỉnh. Sau khi xảy ra tai nạn, do Phùng Quốc T là người khuyết tật nặng (bệnh tim bẩm sinh, phải đặt máy trợ tim) nên đã hoảng sợ bệnh tình tái phát, T đã điều khiển xe ô tô biển số 81A-200.93 rời khỏi hiện trường, chạy đến tiệm sửa chửa điện thoại di động Tân Toàn C tại số 25 đường Trần P, tổ 1, phường Tây S, thành phố P, do bà Trần Thị L (Sinh năm 1974, là mẹ của T) làm chủ, cách hiện trường khoảng 600m. T gọi bà L dậy rồi cùng bà L quay lại hiện trường để đưa Hoàng A đi cấp cứu, nhưng khi đến hiện trường thì Hoàng A đã được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai nên bà L và T quay lại về tiệm điện thoại Tân Thế G. Bà L điều khiển xe về nhà tại số 2/28 Trần Hưng Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai báo cho ông Phùng Văn H (sinh năm 1972, là chồng bà L), còn T điều khiển xe ô tô biển số 81A-200.93 chở B đi về nhà tại số 10 đường Ama Q, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Sau đó, T lấy xe mô tô biển số 81B1-443.17 cùng B đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai để hỏi thăm nhưng không được cho vào nên B và T đi về nhà rồi T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P làm việc. Tại Cơ quan điều tra, T khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm như đã nêu trên. Đến ngày 06/3/2021, Nguyễn Duy Hoàng A tử vong.

Qua giám định, tại Bản kết luận số 259/GĐPY ngày 07/4/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, kết luận nguyên nhân chết của Nguyễn Duy Hoàng A: “Chấn thương sọ não”.

Theo phiếu đo nồng độ cồn số 02034 vào lúc 01 giờ 44 phút ngày 03/3/2021 của Đội Cảnh sát giao thông - Trật tự công an thành phố P đối với Phùng Quốc T là 0,339mg/l khí thở.

Theo phiếu xét nghiệm sinh hóa máu vào lúc 05 giờ 34 phút này 03/3/2021 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia lai đối với Nguyễn Duy Hoàng A: định lượng Ethanol (cồn) là 14,1 mg/dl.

* Kết quả dựng lại hiện trường

Đoạn đường xảy ra tai nạn là ngã tư Trần Hưng Đ - Quang T, ngã tư có đèn tín hiệu đèn. Đường Trần Hưng Đ, đường hai chiều, thẳng, mặt đường thảm bê thông nhựa bằng phẳng rộng 11,8m, mặt đường có vạch kẻ đường dạng vạch đơn nét đứt phân chia chiều đường, đầu ngã tư có vạch kẻ đường dạng 2 vạch đơn song song ngang đường dành cho người đi bộ sang đường. Đường Quang T, đường hai chiều, thẳng, mặt đường thảm bê tông nhựa rộng 11,2 m, có vạch kẻ đường dạng vạch đơn, nét đứt phân chia chiều đường, có vách sơn dạng 2 vạch đơn song song ngang đường cho người đi bộ sang đường.

Xác định điểm mốc là trụ điện số 79/1-474E42 nằm ở góc bên phải đường Quang T, theo hướng đi Hai Bà T và góc bên trái đường Trần Hưng Đ theo hướng đi bưu điện tỉnh Gia Lai. Xác định mép đường bên trái đường Trần Hưng Đ theo hướng đi bưu điện tỉnh làm mép đường chuẩn; mép đường Quang T bên phải theo hướng đi Hai Bà T làm mép khu vực giao lộ.

Tiến hành dựng lại và mô tả các vị trí như sau: Vết (1) vết chà, cày, nhớt diện (12,93 x 1,25)m nằm trên mặt đường giao lộ, có dạng thẳng, đứt quãng, đầu vết (1) hướng về Quảng trường, nằm ở khu vực giữa lòng đường Trần Hưng Đ, đuôi vết (1) hướng về Bưu điện tỉnh, chếch vào mép đường chuẩn. Điểm đầu vết (1) cách mép đường chuẩn 6,6m cách mép đường bên phải đường Quang T theo hướng đi Hai Bà T là 2,7m. Điểm cuối vết (1) cách mép đường chuẩn 1,5m. Xe mô tô biển số 81F1- 1257, ký hiệu (2), nằm ở cuối vết (1), ngả nghiêng qua phải, gác chân trước bên phải xe (2) trùng với cuối vết (1). Đầu xe (2) hướng về Bưu điện tỉnh, đuôi xe (2) hướng về phía Quảng trường. Tâm trục bánh xe (2) cách mép đường chuẩn 1,8 m, tâm trục bánh sau xe (2) các mép đường chuẩn 1,4 m. Vùng màu hồng (máu), ký hiệu (3) diện (0,45 x 0,28)m nằm trên mặt đường, trước đầu xe (2), tâm vùng (3) cách trục bánh trước xe (2) 0,6m. Vùng (3) không rõ hình, tâm vùng (3) cách mép đường chuẩn 1,95m. Vùng mảnh vỡ nhựa, kính, ký hiệu (4), diện (8,2 x 5)m, nằm trên mặt đường, không rõ hình. Tâm vùng (4) cách điểm đầu vết (1) hướng về Bưu điện tỉnh cách 10,4 m, tâm vùng (4) cách trục bánh xe (2) về hướng Hai Bà T là 4,75m. Xe ô tô con biển số 81A- 200.93, ký hiệu (5), đứng trên mặt đường, đầu xe hướng về đường Bưu điện tỉnh, đuôi xe hướng về Quảng trường. Mép ngoài tâm trục bánh trước bên trái xe (5) ngay đầu vết (1), cách mép đường chuẩn 6,7m, cách mép đường Quang T 2,7m. Mép ngoài tâm trục bánh sau xe (5) cách mép đường chuẩn 6,7m, cách mép cuối vạch người đi bộ sang đường Trần Hưng Đ, hướng quảng trường tới là 12m, cách vuông góc với chân cột điện tín hiệu là 15,6m. Cách mép cuối vạch người đi bộ sang đường Quang T hướng Lê L tới là 17,1m, cách vuông góc chân cột đèn tín hiệu là 20,15m. Mép ngoài tâm trục bánh trước xe (5) cách điểm mốc là 19,3m, cách trục bánh xe sau xe (2) là 12,6m. Tâm trục bánh sau xe (2) cách điểm mốc là 20,80m.

* Kết quả khám xe ô tô nhãn hiệu MITSUBISHI, màu trắng, biển số 81A-200.93.

Tại vị trí ốp chắn bùn phía dưới cản trước bên trái có vết móp, méo, nứt vỡ nhựa trong diện (29x21)cm. Đèn gần phía trước, dưới, bên phải bị vỡ, rời khỏi vị trí lắp ghép ban đầu. Tại vị trí cản trước bên phải (phía dưới đèn pha) bên phải bị nứt, vỡ nhựa trong diện (7x7)cm. Ốp của đèn pha phía trước bên phải bị nứt vỡ nhựa trong diện (19x9)cm. Đèn pha phía trước bên phải bị nứt, vỡ kính, làm lộ bóng đèn bên trong (32x17)cm. Ốp viền đèn pha (phía ngoài đèn pha trước bên phải) bị nứt vỡ nhựa trong diện (23x14)cm. Kính đèn tín hiệu bên phải bị vỡ trong diện (45x8)cm, làm lộ chóa đèn, bóng đèn. Vị trí lắp ráp cản trước và ốp chắn bánh xe bị móp méo, hở so với vị trí ban đầu 7cm. Vị trí lắp ráp ốp chắn bánh xe và nắp ca pô bên phải, bị móp méo, hở so với vị trí lắp ráp ban đầu 8cm. Vị trí ốp chắn bánh xe bị móp méo kim loại, trong diện (64x60)cm, huớng vào phía bên trong động cơ, từ phải sang trái, so với vị trí lắp đặt ban đầu 12cm. Vị trí kính chắn gió trước bị nứt, vỡ kính trong diện (47x37)cm, tâm vết cách vị trí lắp ráp gương chiếu hậu bên phải 35cm. Vị trí ốp kim loại lắp ráp kính chắn gió bên phải, phía trước bị trầy xước kim loại, móp méo kim loại diện (40x2,5)cm, bề mặt hằn chất màu đen. Lòng dè chắn bùn bánh trước, bên phải bị móp méo, nứt vỡ nhựa, trong diện (62x8)cm, hướng từ ngoài vào trong, lún so với vị trí ban đầu 10cm. Tại vị trí mâm bánh xe trước bên phải, có vết trầy xước kim loại trong diện (7x1)cm, cách van xe 60cm ngược chiều kim đồng hồ. Phía trên vết trầy xước kim loại trên 2cm, có vết rách cao su (tại vị trí lốp xe) trong diện (4 x 2)cm. Tại vị trí gương chiếu hậu bên phải bị nứt, vỡ hoàn toàn, gãy rời vị trí lắp ráp ban đầu. Tại vị trí lắp ráp cửa trước bên phải và ốp chắn bánh xe, bị móp méo, hở so với vị trí lắp ráp ban đầu diện (18x3,5)cm, lún vào trong so với vị trí ban đầu 2cm. Tại vị trí cửa trước bên phải xe ô tô có nhiều vết trầy, xước kim loại. Vết đấu có diện (49x0,3)cm. Tâm vết cách tay nắm cửa là 47cm. Vết (2) cách vết (1) 8cm, diện (45x3)cm. Vết thứ 3 có diện (23x7)cm, tâm vết (3) cách tâm vết (2) là 6cm.

Qua định giá, tại Bản kết luận só 95/KL-HĐĐG ngày 14/6/2021, của Hội đồng định trong tố tụng hình sự kết luận: “01 xe ô tô nhãn hiệu MITSUBISHI, màu trắng, biển số 81A-20093 có trị giá thiệt hại do tai nạn giao thông là 17.400.000 đồng”.

Qua giám định, xe ô tô biển số 81A-200.93 tại thời điểm giám định không đảm bảo an toàn kỹ thuật (sử dụng cỡ lốp không đúng theo tài liệu kỹ thuật).

* Kết quả khám xe mô tô nhãn hiệu Dream, màu nho, biển số 81F1-1257

Tại vị trí đèn xi nhan bên phải bị vỡ ốp bảo vệ bóng đèn, trong diện (17x7)cm. Tại vị trí đầu tay nắm lái bên phải có lắp đặt ốp kim loại bảo vệ bị trầy xước kim loại trong diện (3x0,2)cm, chiều hướng từ trước ra sau. Tại vị trí đầu tay phanh bên phải có vết trầy xước kim loại, bong tróc sơn trong diện (1x0,5)cm, chiều hướng từ trước ra sau. Mặt nạ đầu xe bị gãy rời khỏi nơi bắt cố định trong diện (28x13)cm. Giá kim loại lắp đặt giỏ xe bị móp méo kim loại, lệch khỏi vị trí ban đầu 2cm, chiều hướng từ phải sang trái. Dè chắn bùn bánh trước bị vỡ nhựa, vỡ hoàn toàn trong diện (11x9)cm. Ốp bảo vệ phuộc nhún bị trầy xước sơn, vỡ nhựa trong diện (9x4)cm. Tại vị trí dè chắn bùn sau (bánh trước) có vết trầy xước nhựa, mài mòn kim loại trong diện (4x1)cm, chiều hướng từ trước ra sau. Niềng bánh xe trước bị móp méo, lệch khỏi vị trí ban đầu 3cm, chiều hướng từ phải sang trái. Tại vị trí mặt ngoài bên phải niềng bánh xe trước, mặt ngoài bên phải lốp xe trước có vết hằn màu trắng trong diện (13x4,5)cm, cách van 22cm. Tại vị trí bề mặt lốp xe (bánh trước) có chà lốp, hằn cao su trong diện (65x4)cm, tâm vết cách chân van 23cm, theo chiều hướng ngược chiều kim đồng hồ. Tại vị trí phuộc nhún bên phải (phía trước) có vết chà lốp mài mòn kim loại trong diện (2x1,5)cm, tâm vết cách tâm trục bánh bánh trước 23cm, chiều hướng từ trước ra sau. Yếm chắn gió bên phải bị vỡ nhựa, nứt vỡ hoàn toàn trong diện (60 x 23)cm. Lốc máy bên phải bị nứt, vỡ kim loại trong diện (11x7)cm. Bàn đạp phanh bị móp méo kim loại, lệch khỏi vị trí cố định 12cm, theo chiều hướng từ trước ra sau. Tại đầu bàn chân đạp có vết trầy xước kim loại trong diện (2,5 x 0,5)cm, chiều hướng từ trước ra sau. Gác để chân trước bên phải bị móp méo kim loại, lệch khỏi vị trí ban đầu 8cm, theo chiều hướng từ trước ra sau. Tại vị trí đầu gác chân trước có vết mài mòn, trầy xước cao su, kim loại trong diện (3x0,5)cm, chiều hướng từ trước ra sau. Ốp bảo vệ bình ắc quy thân xe bên phải bị vỡ, bung ra khỏi vị trí lắp ráp. Tại vị trí đáy bình ắc quy thân xe bên phải, có vết trầy xước nhựa trong diện (3x0,5)cm, chiều hướng từ trước ra sau. Tại vị trí đuôi ống xả có vết trầy xước, mài mòn kim loại, vết đầu trong diện (3,5x2)cm, cách vị trí bắt cố định phuộc nhún sau bên phải 3cm; vết thứ 2 có diện (2x1)cm, cách vị trí cố định trên 9cm. Cả hai vết có hướng từ trước ra sau. Chẳng ba đầu xe bị lệch khỏi vị trí đầu ban đầu 2cm, chiều hướng từ trước ra sau.

Qua định giá, tại Bản kết luận số 96/KL-HĐĐG ngày 15/6/2021, của Hội đồng định trong tố tụng hình sự kết luận: “01 xe mô tô nhãn hiệu Dream, màu nho, biển số 81F1-1257 có trị giá thiệt hại do tai nạn giao thông là 2.200.000 đồng”.

Vật chứng vụ án:

- 01 xe ô tô nhãn hiệu MITSUBISHI, màu trắng, biển số 81A-200.93. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã trả lại xe mô tô biển số 81A-200.93 cho ông Lương Duy T là chủ sở hữu.

- 01 mô tô nhãn hiệu Dream, màu nho, biển số 81F1-1257. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã trả lại xe mô tô biển số 81F1-1257 cho ông Hồ Thành T là chủ sở hữu.

Về dân sự: Phùng Quốc T đã bồi thường và tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu qủa cho gia đình bị hại Nguyễn Duy Hoàng A số tiền 180.000.000 đồng. Hiện gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường và có đơn xin bãi nại. Sau khi nhận lại xe ô tô biển số 81A-200.93, ông Lương Duy T không yêu cầu bồi thường. Sau khi nhận lại xe mô tô biển số 81F1-1257, ông Hồ Thành T không yêu cầu bồi thường.

Tại Bản cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 02/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P truy tố bị cáo Phùng Quốc T về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phùng Quốc T về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phùng Quốc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Phùng Quốc T mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 04 đến 05 năm; buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi đúng như Cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến phản đối về tội danh và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo vì bị cáo là lao động chính trong gia đình, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, con còn nhỏ, vợ không có việc làm.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo có ý kiến bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù cho hưởng án treo.

Trong quá trình điều tra, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại và xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo Phùng Quốc T khai nhận vào khoảng 0 giờ 20 phút, ngày 03/3/2021, bị cáo có sử dụng rượu, bia điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 81A-200.93 lưu thông trên đường Trần Hưng Đ, theo hướng từ Quảng trường Đại Đoàn K đi Bưu điện tỉnh Gia Lai, khi đến ngã tư giao nhau có đèn tín hiệu vàng nhấp nháy nhưng không giảm tốc độ đến mức không còn nguy hiểm, quan sát và xử lý tình huống kém, nên đã tông vào xe mô tô của Nguyễn Duy Hoàng A từ đường Quang T đi đường Hai Bà T, hậu quả làm anh A chết. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, biên bản khám nghiệm tử thi, kết quả xác định nồng độ cồn, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở khẳng định, hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 và khoản 3 Điều 10 của Luật giao thông đường bộ năm 2008. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có lỗi vô ý, hành vi nguy hiểm cho xã hội, nên đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và trong tình trạng đã sử dụng rượu, bia quy định khoản 6 Điều 5 Luật phòng chống tác hại của rượu bia (sửa đổi bổ sung khoản 8 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ) nên phạm vào tình tiết tăng nặng định khung quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng truy tố đối với bị cáo là đúng với hành vi khách quan mà bị cáo đã thực hiện.

Xét xe ô tô khi tham gia giao thông là nguồn nguy hiểm cao độ nên đòi hỏi người điều khiển phải tuân thủ đúng những quy định của pháp luật để đảm bảo trật tự, an toàn công cộng, đảm bảo cho tính mạng sức khỏe, tài sản của bản thân và những người khác. Bị cáo nhận thức được nhưng đã không chấp hành đúng quy định để đảm bảo an toàn mà điều khiển xe một cách cẩu thả gây hậu quả chết người. Hành vi của bị cáo là trái pháp luật, xâm phạm đến an toàn công cộng, gây ra hậu quả nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, nên phải chịu trách nhiệm hình sự, cần xử lý nghiêm bằng hình phạt tù, tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả đã gây ra để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Khi đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi gây tai nạn của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị hại cũng có một phần lỗi, điều khiển xe đi vào ngã tư giao nhau có đèn tín hiệu vàng nhấp nháy nhưng không giảm tốc độ đến mức không còn nguy hiểm và đã sử dụng rượu bia, định lượng Ethanol (cồn) là 14,1 mg/dl.

Bị cáo T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, bị cáo là người khuyết tật nặng; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, sau khi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình người bị hại, khắc phục hậu quả do bị cáo gây ra; người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm b, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự. Xét ý kiến đề nghị của người đại diện cho bị hại và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, lỗi vô ý, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt và nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội, bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà khoan hồng, áp dụng quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp người bị hại không yêu cầu bồi thường thêm về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với ông Lương Duy T là chủ sở hữu chiếc xe ô tô biển số 81A-200.93, việc Phùng Quốc T uống rượu bia, sử dụng chiếc xe trên gây tai nạn giao thông vào ngày 03/3/2021 làm chết 01 người thì ông T không biết. Đồng thời, tại thời điểm xảy ra tai nạn xe ô tô biển số 81A-200.93 vẫn còn thời hạn kiểm định an toàn kỹ thuật và hoạt động đảm bảo an toàn nên không có không có căn cứ xử lý hình sự đối với ông Lương Duy T về tội “Đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ không đảm bảo an toàn” là có căn cứ.

Đối với ông Hồ Thành T là chủ sở hữu chiếc xe ô tô biển số 81F1-1257, việc Nguyễn Duy Hoàng A sử dụng rượu bia rồi điều khiển chiếc xe trên gây tai nạn giao thông vào ngày 03/3/2021 làm chính Hoàng A chết thì ông T không biết, ông T không giao xe cho A điều khiển, A tự ý sử dụng xe mô tô trên. Do vậy, không có căn cứ xử lý hình sự đối với ông Hồ Thành T về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” là có căn cứ.

Đối với Hồ Nhất M (là bạn của Nguyễn Duy Hoàng A), vào tối ngày 02/3/2021, Hoàng A đến nhà M chơi. Đến khoảng 0 giờ 10 phút ngày 03/3/2021, Hoàng A rủ M đi ăn tối nhưng M không đi; Việc Hoàng A tự ý lấy xe mô tô biển số 81F1-1257 đi rồi gây tai nạn giao thông làm chính Hoàng A chết thì M không biết, M không giao xe cho Hoàng A sử dụng. Do vậy, không có căn cứ xử lý hình sự đối với ông Hồ Nhật M về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phùng Quốc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phùng Quốc T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng tính từ ngày 13/01/2022.

Giao bị cáo Phùng Quốc T cho Ủy ban nhân dân phường Tây S, thành phố P, tỉnh Gia Lai để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp bị cáo Phùng Quốc T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Phùng Quốc T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ