vanban.org

Bản án 03/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 18/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

Xử phạt bị cáo: Đào Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đào Văn H cho Ủy ban nhân dân xã Hoàng Hoa, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Văn H phạm tội Vi phạm quy định về thạm gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Lu…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM ĐẢO
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2022/HSST
Ngày 18 - 01 - 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Oai Bốn và bà Trần Thị Bích Hằng.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Hoàng Minh Đoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2021/TLST - HS ngày 29 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

- Đào Văn H , sinh năm 1978; nơi cư trú: Khu 8, xã HH, huyện TD, tỉnh VP; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đào Trọng Th và bà: Lăng Thị D; Vợ: Nguyễn Thị T, con: 02 (con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2009); Tiền sự, tiền án: không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Chị Lê Thị B, sinh năm 1971(đã chết).

Người đại diện hợp pháp cho người bị hại: Anh Hoàng Văn Ng, sinh năm 1970 (vắng mặt); chị Hoàng Thị H, sinh năm 1993 (vắng mặt); anh Hoàng Văn K, sinh năm 1996 (có mặt); Người đại diện theo ủy quyền cho anh Ng, chị H, anh K là anh Hoàng Văn Th, sinh năm 1963; đều trú tại: Thôn Phân Lân H, xã ĐT, huyện TĐ, tỉnh VP (có mặt);.

Bị đơn dân sư: Công ty TNHH Jafa Com feed VN; trụ sở: Thị trấn HC, huyện BX, tỉnh VP; Người đại diện của công ty là ông Hoàng Phan T, sinh năm 1946, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty (vắng mặt); Người được ủy quyền là chị Vũ Thị Thu Ng, sinh năm 1979; chức vụ: Giám đốc hành chính khu vực phía bắc; địa chỉ: Lô CT15, KĐT VH, P. GB, Q. LB, TP. HN (có mặt).

Những người làm chứng: Chị Trần Thị S, sinh năm 1971; trú tại: Thôn PLTh, xã ĐTr, huyện TĐ, tỉnh VP (có mặt).

Anh Lục Thế Th, sinh năm 1986 (có mặt); chị Đỗ Thị S, sinh năm 1971(có mặt); đều trú tại: Thôn ĐM, xã YD, huyện TĐ, tỉnh VP.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ 00 ngày 19/10/2021, Đào Văn H, là công nhân lái xe của chi nhánh trại gà YD thuộc Công ty TNHH JAPFA Comfeed Việt Nam, trụ sở tại thị trấn Hương Canh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. H có giấy phép lái xe hạng B2 số 260082261944 do Sở GTVT tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 15/11/2013 có thời hạn đến ngày 15/11/2023. H điều khiển xe ô tô tải thùng kín, BKS 88LD - 0401, tham gia giao thông theo đường liên xã Yên Dương đi xã Bồ Lý, huyện Tam Đảo. Trước khi đi, H cho chị Lê Thị B, sinh năm 1971, chị Trần Thị S, sinh năm 1971 đều trú tại thôn PLTh, xã ĐTr, huyện TĐ, tỉnh VP và Đỗ Thị S, sinh năm 1971 ở thôn ĐM, xã YD, huyện TĐ (đều là công nhân chi nhánh trại gà Yên Dương thuộc công ty JAPFA) ngồi trong thùng xe cùng 78 lồng gà bằng nhựa cứng kích thước (73 x 52 x 31)cm, trong đó có 16 lồng chứa gà, 62 thùng trống. Khi đi đến đoạn đường cánh đồng Rau Xanh thuộc thôn Đồng Mới, xã Yên Dương do các lồng gà không được chằng buộc chắc chắn, cửa sau thùng xe không đóng làm 01 lồng gà bị rơi, đẩy theo chị B ngã khỏi thùng xe xuống mặt đường. Xe ô tô tiếp tục di chuyển khoảng 15m thì dừng lại. Sau đó H xuống xe, cùng mọi người đưa nạn nhân đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện Tam Dương. Do thương tích nặng đến 21 giờ 30 phút cùng ngày chị B tử vong.

Sau khi tiếp nhận tin báo vụ tai nạn giao thông trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Đảo phối hợp cùng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc và các lực lượng chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, khám nghiệm tử thi Lê Thị B và củng cố hồ sơ giải quyết theo quy định.

1. Kết quả khám nghiệm hiện trƣờng:

Hiện trường vụ tai nạn giao thông không còn nguyên vẹn do hoạt động cấp cứu nạn nhân. Cụ thể nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường Cánh đồng Rau Xanh thuộc thôn Đồng Mới, xã Yên Dương, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Mặt đường tương đối bằng phẳng, được trải nhựa áp fan, ở hai bên đường là hệ thống cây bụi cỏ ở ven đường, lòng đường rộng 3,40m. Tiến hành khám nghiệm hiện trường theo chiều hướng từ xã Yên Dương đi xã Bồ Lý, lấy mép đường bên phải làm mép đường chuẩn, lấy cột điện số 6NR x 06 lô 971 TG.XP làm muốc chuẩn. Phát hiện các dấu vết sau:

Dấu vết 1: Là đám chất dịch màu nâu đỏ có kích thước 50cm x 20cm, tâm vết cách mép đường chuẩn là 3,0m, cách cột mốc chuẩn là 22m.

Dấu vết 2: Là đám chất dịch màu nâu đỏ có kích thước 90cm x 60cm, vị trí này cách tâm vết (1) là 5,70m, cách mép đường chuẩn là 1,3m.

Dấu vết 3: Là vị trí của 01 đôi ủng nhựa, vị trí này cách vết 2 là 2,1m, cách mép đường chuẩn 1,50m.

Tiến hành mở rộng hiện trường phát triển theo hướng về UBND xã Bồ Lý khoảng 120m, phát hiện 01 xe ô tô tải, loại xe thùng kín, màu sơn trắng, BKS 88LD - 0401 trong tình trạng dừng đỗ, cửa phía sau thùng xe được mở tự nhiên.

2. Kết quả khám nghiệm phƣơng tiện: Xe ô tô BKS: 88LD - 0401 màu trắng, thùng kín nhãn hiệu MITSUBISHI, trọng tải 3000kg.

Thùng xe phía sau mở hai cánh, thùng xe này có chiều ngang là 2,16m, chiều cao thùng xe là 2,0m.

Kiểm tra phần thấp nhất của thùng xe cách mặt nền là 72cm.

Kiểm tra cánh cửa bên phải phía sau thùng xe được buộc vào mép sườn xe bên phải.

Kiểm tra ở cánh cửa bên trái phía sau thùng xe được buộc vào mép sườn xe bên trái.

3. Kết quả khám nghiệm tử thi:

Ngày 19/10/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Đảo có Quyết định trưng cầu giám định số 372/ĐTTH, trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định tử thi, xác định nguyên nhân chết của Lê Thị B, sinh năm 1971 trú tại thôn PLH, xã ĐTr, huyện TĐ, tỉnh VP. Ngày 30/10/2021, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 2800/KLGĐ-PC09-PY, kết luận:

D u hiệu qua giám đ nh:

- Trên tử thi Lê Th B có các vết sây sát, rách da, tụ máu vùng chẩm, tay trái và hai chân.

- Vỡ phức tạp xương chẩm, qua đường vỡ có nhiều máu chảy ra.

- Trong máu của tử thi Lê Th B gửi giám đ nh không tìm th y cồn (Ethanol) và các ch t ma túy thường gặp.

Nguyên nhân chết của ch Lê Th B: Ch n thương sọ não.

4. Kết quả giám định nồng độ cồn, ma túy:

Ngày 19/10/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Đảo trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành giám định nồng độ cồn, chất ma túy đối với Đào Văn H và nạn nhân Lê Thị B.

Ngày 27/10/2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có bản kết luận giám định số 2771/KLGD và số 2772/KLGĐ kết luận: Không phát hiện thấy có cồn (Ethanol) trong mẫu máu thu của tử thi Lê Thị B và mẫu máu thu của Đào Văn H.

Ngày 30/10/2021, phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có Kết luận giám định số 2798/KLGĐ và 2799/KLGĐ, kết luận: Không phát hiện thấy thành phần các chất ma túy trong mẫu máu thu của Lê Thị B và Đào Văn H.

Đối với Công ty TNHH JAPFA Comfeed Việt Nam, đại diện là ông Hoàng Phan T (chủ tịch Hội đồng thành viên) có hợp đồng lao động với Đào Văn H và chị Lê Thị B. Qua điều tra xác định ngày 19/10/2021, sau khi bán gà loại xong, do còn tồn gà nên Đào Văn H được phân công trở gà xuống nhà chị Đào Thị L, sinh năm 1973 ở thôn ĐM, xã YD để tập kết gửi gà loại tại đây. Trong quá trình lái xe, H tự ý cho chị Lê Thị B, Trần Thị S, Đỗ Thị S ngồi lên thùng xe ô tô BKS 88LD - 0401. Quản lý trại gà JAPFA Yên Dương không biết và không có chỉ đạo H để số công nhân ngồi lên thùng xe, do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

5. Về xử lý vật chứng, bồi thƣờng dân sự:

Sau khi vụ tai nạn giao thông xảy ra, ngày 04/11/2021, Đào Văn H đã tự nguyện bồi thường số tiền 60.000.000đ, công ty JAPFA tự nguyện hỗ trợ cho gia đình bị hại Lê Thị B số tiền 150.000.000đ. Ông Hoàng Văn Th là người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền trên đồng thời đề nghị Cơ quan chức năng miễn, giảm trách nhiệm hình sự cho Đào Văn H và không có yêu cầu, đề nghị gì khác về dân sự.

Ngày 25/11/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Đảo đã Quyết định xử lý vật chứng trả lại công ty JAPFA Việt Nam 01 xe ô tô BKS 88LD - 0401; 01 đăng ký xe ô tô số 006674; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số KD 8504288; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc số 15216935. Đại diện công ty nhận lại tài sản và không có ý kiến thắc mắc gì khác.

Đối với 01 giấy phép lái xe hạng B2 số 260082261944 do Sở GTVT tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 15/11/2013 trả lại cho bị cáo Đào Văn H.

Tại Bản cáo trạng số: 03/CT-VKSTĐ ngày 27 tháng 12 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo truy tố Đào Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đào Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự, phạt: Đào Văn H từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự: Cấm bị cáo Đào Văn H hành nghề lái xe 01 năm đến 01 năm 06 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện hợp pháp, đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại có ý kiến: Về mặt dân sự không có yêu cầu gì về phần bồi thường, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức thấp nhất và được hưởng án treo vì bị cáo là lao động chính trong gia đình, đi làm để nuôi vợ và hai con đang ăn học.

Đại diện bị đơn dân sự có ý kiến: Sau khi sự việc sảy ra công ty cùng với bị cáo đã khắc phục bồi thường và đại diện gia đình bị hại có đơn xin miễm truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên đề nghị hội đồng xét xử xem xét mức án thấp nhất cho bị cáo được hưởng án treo, được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo Đào Văn H đồng ý với nội dung luận tội của kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đảo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đào Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 19/10/2021, Đào Văn Hải điều khiển xe ô tô tải thùng kín BKS 88LD - 0401 lưu thông trên đoạn đường liên xã đoạn thuộc cánh đồng Rau Xanh thôn Đồng Mới, xã Yên Dương, huyện Tam Đảo. Mặc dù biết là không được chở người trên thùng xe tải nhưng H vẫn đồng ý để chị Lê Thị B, Trần Thị S và Đỗ Thị S ngồi phía sau thùng xe cùng 78 lồng gà bằng nhựa cứng kích thước (73 x 52 x 31)cm. Do các lồng gà không được chằng buộc chắc chắn trong khi cửa phía sau thùng xe không đóng nên 01 lồng gà và chị Ba bị rơi khỏi thùng xe xuống mặt đường. Xe ô tô tiếp tục di chuyển khoảng 15m thì dừng lại. Hậu quả chị Lê Thị B bị thương tích nặng được đưa đên Trung tâm y tế huyện Tam Dương cấp cứu, đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày thì tử vong.

Hành vi điều khiển xe ô tô của Đào Văn H chở người trên thùng xe tải, hàng hóa phía sau không chằng buộc chắc chắn trong khi cửa thùng không đóng gây tai nạn giao thông làm chị Lê Thị B tử vong đã vi phạm vào điểm a khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 72 Luật giao thông đường bộ.

Cụ thể Điều luật quy định:

“ Điều 72. Vận tải hàng hóa bằng xe ô tô

1. Việc vận chuyển hàng hóa bằng xe ô tô phải ch p hành các quy đ nh sau đây:

a) Hàng vận chuyển trên xe phải được xếp đặt gọn gàng và chằng buộc chắc chắn;

...

2. Không được thực hiện các hành vi sau đây:

...

b) Chở người trong thùng xe, trừ trường hợp quy đ nh tại khoản 1 Điều 21 của Luật này”.

Khoản 1 Điều 21 Luật GTĐB quy định:

“ Điều 21. Trường hợp chở người trên xe ô tô chở hàng

1. Chỉ được chở người trên xe ô tô chở hàng trong các trường hợp sau đây:

a) Chở người đi làm nhiệm vụ phòng, chống thiên tai hoặc thực hiện nhiệm vụ khẩn c p; chở cán bộ, chiến sĩ của lực lượng vũ trang nhân dân đi làm nhiệm vụ; chở người b nạn đi c p cứu;

b) Chở công nhân duy tu, bảo dưỡng đường bộ; chở người đi thực hành lái xe trên xe tập lái; chở người diễu hành theo đoàn;

c) Giải tỏa người ra khỏi khu vực nguy hiểm hoặc trong trường hợp khẩn c p khác theo quy đ nh của pháp luật...”.

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai, bản kiểm điểm của bị cáo, người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của gia đình người bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường và sơ đồ hiện trường; biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông; Kết quả giám định pháp y về tử thi; tang vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Đào Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Nội dung Điều luật quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy đ nh về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì b phạt tiền từ 30.000.000đ đến 100.000.000đ, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a, Làm chết người;

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn trật tự công cộng. Đã gây tâm lý hoang mang, lo ngại cho quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông. Hiện nay mật độ người và phương tiện tham gia giao thông ngày càng tăng, để hạn chế tai nạn giao thông thì Nhà nước quy định rất chặt chẽ, quy định cụ thể với hành vi và điều kiện bắt buộc, cần thiết đối với người tham gia giao thông nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản của nhân dân.

Bị cáo chở người trên thùng xe tải không thuộc trường hợp được phép chở; hàng hóa phía sau không chằng buộc chắc chắn khi cửa thùng không đóng làm 01 lồng gà rơi xuống cùng với chị Lê Thị B bị rơi xuống đất. Hậu quả: Chị Lê Thị B đã tử vong. Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não. Mặt khác trong vụ án này cũng có một phần lỗi của chị B ngồi lên lồng gà trên thùng xe tải mặc dù biết nguy hiểm, tay không bám vào thành xe dẫn đến các lồng gà bị rung lắc làm một lồng gà bị rơi xuống đất và chị B cũng bị rơi ngã xuống theo. Do đó bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo truy tố bị cáo theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, lỗi vô ý, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại. Đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo lần đầu phạm tội, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo và bị đơn dân sự đã hỗ trợ bồi thường xong cho gia đình bị hại. Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp và đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại không yêu cầu gì về phần dân sự và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có thời gian đi bộ đội và được tặng thưởng giấy khen nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự: Cấm bị cáo hành nghề lái xe 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đào Văn H đã tự nguyện bồi thường số tiền 60.000.000đ, công ty JAPFA tự nguyện hỗ trợ cho gia đình bị hại số tiền 150.000.000đ. Gia đình bị hại không có yêu cầu gì về phần bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Đào Văn Hải 01 giấy phép lái xe hạng B2 số 260082261944 do Sở GTVT tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 15/11/2013 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật cần chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Xử phạt bị cáo: Đào Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đào Văn H cho Ủy ban nhân dân xã Hoàng Hoa, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp bị cáo Đào Văn H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự: Cấm bị cáo Đào Văn Hải hành nghề lái xe 01(một) năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Đào Văn H 01 giấy phép lái xe hạng B2 số 260082261944 do Sở GTVT tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 15/11/2013 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng trên có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/01/2022).

4. Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Đào Văn H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, đại diện theo ủy quyền của bị đơn dân sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ