vanban.org

Bản án 03/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Tuyên án 26/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Lường Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lường Văn T 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 06 tháng 5 năm 2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MS
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2022/HSST
Ngày: 26 - 10 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MS, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Tráng A Tếnh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phùng Quốc Quân

2. Ông Nguyễn Đức Việt

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lường Thị Vân Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện MS, tỉnh Sơn La

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MS tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Như Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện MS, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2022/QĐST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Lường Văn T, tên gọi khác: Không. Sinh ngày 15 tháng 5 năm 1971 tại huyện MS, tỉnh Sơn La. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Bản NT, xã CN, huyện MS, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 02/12; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông: Lường Văn I (đã chết) và bà Lường Thị L sinh năm 1950. Bị cáo có vợ Lò Thị S, sinh năm 1979 (đã ly hôn). Bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1994 và con nhỏ nhất sinh năm 1997.

Tiền án, Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 21/01/2019, Lường Văn T bị Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 750.000VNĐ.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/5/2022 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 03/5/2022, Lường Văn T đem theo 1.000.000VNĐ đi bộ từ nhà ở bản NT, xã CN, huyện MS, tỉnh Sơn La đến bản Nhụng Dưới, xã CN để tìm mua ma túy về sử dụng. T gặp và mua được của một người đàn ông (không biết tên, địa chỉ) điều khiển xe mô tô (không nhớ biển kiểm soát) đi ngược chiều 02 túi nilon màu xanh chứa Heroine và Hồng phiến. T cất hai túi ma túy mua được vào túi quần trước đang mặc rồi đi bộ về nhà, kiểm tra thấy 01 túi chứa Hồng phiến, 01 túi chứa Hồng phiến và 01 gói nilon màu trắng chứa Heroine ( T không kiểm đếm số lượng). Từ ngày 03/5/2022 đến ngày 05/5/2022, T nhiều lần lấy Heroine và Hồng phiến ra sử dụng. Khoảng 12 giờ ngày 05/5/2022, T lấy 03 viên Hồng phiến ra sử dụng hết 02 viên, còn 01 viên gói vào mảnh nilon màu hồng cất giấu trong túi quần bên phải cùng 02 gói nilon màu xanh ban đầu để tiện sử dụng. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, T đang ở nhà thì có Mùa A Vang, Cầm Văn Phượng và Cầm Văn Thủy đến nhà chơi. T lấy gói nilon màu hồng chứa 01 viên Hồng phiến ra để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác Công an xã CN đến kiểm tra. T thả gói nilon màu hồng chứa viên Hồng xuống nền nhà chỗ đang đứng thì bị phát hiện bắt quả tang thu giữ 01 viên Hồng phiến, cùng 02 gói nilon màu xanh chứa ma túy trong túi quần T đang mặc.

Ngày 06/5/2022, Cơ quản cảnh sát điều tra Công an huyện MS phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng thu giữ của Lường Văn T để trưng cầu giám định, kết quả:

- Vật chứng thu tại sàn nhà T: 01 viên nén màu hồng có khối lượng 0,1 gam và chất bột nén màu trắng trong gói nilon màu trắng có khối lượng 0,19 gam, lấy toàn bộ làm hai mẫu giám định ký hiệu M1, M2;

- Vật chứng thu trong túi quần T đang mặc:

+ Trong gói nilon màu xanh thứ nhất 78 viên Hồng phiến có khối lượng 7,74 gam, lấy 0,51 gam làm mẫu giám định ký hiệu M3;

+ Trong gói nilon màu xanh thứ hai: 70 viên nén màu hồng có khối lượng 6,95 gam lấy 0,52 gam làm mẫu giám định ký hiệu M4 và chất bột nén màu trắng có khối lượng 0,68 gam lấy 0,10 gam làm mẫu giám định ký hiệu M5.

Tại Kết luận giám định số 785/KL-KTHS ngày 07/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:

“Các mẫu gửi giám định M1, M3, M4 đều là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của các mẫu gửi giám định là M1=0,10 gam, M3=0,51 gam, M4=0,52 gam

Mẫu gửi giám định ký hiệu M5 là ma túy; Loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,10 gam.

Mẫu gửi giám định ký hiệu M2 không là ma túy, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,19 gam.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 14,79 gam, loại Methamphetamine; 0,68 gam, loại Heroine”.

Tại bản Cáo trạng số: 109/CT-VKSMS ngày 04/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện MS truy tố bị cáo Lường Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Lường Văn T từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy: Vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh nilon màu trắng, hồng, 02 túi nilon màu xanh cùng tang vật còn lại T1=7,23 gam Methamphetamine; T2=6,43 gam Methamphetamine; T3=0,58 gam Heroine được niêm phong trong một phong bì do Công an tỉnh Sơn La phát hành.

Trả lại cho bị cáo Lường Văn T 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo Y12s, màu đen, kèm 01 sim điện thoại, đã qua sử dụng cũ.

Bị cáo nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát đề nghị xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thực hiện đường lối tố tụng trong vụ án: Xét thấy việc khởi tố, truy tố, xét xử của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân huyện MS đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng trong vụ án đối với bị cáo theo đúng quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án:

Căn cứ biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang ngày 05/5/2022 đối với bị cáo Lường Văn T cùng toàn bộ vật chứng gồm: 14,79 gam Methamphetamine và 0,68 gam Heroine, bị cáo thừa nhận là chất ma túy bị cáo tàng trữ sử dụng cho bản thân.

Tại bản kết luận giám định số 785/KL-KTHS ngày 07/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:

“Các mẫu gửi giám định M1, M3, M4 đều là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của các mẫu gửi giám định là M1=0,10 gam, M3=0,51 gam, M4=0,52 gam

Mẫu gửi giám định ký hiệu M5 là ma túy; Loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,10 gam.

Mẫu gửi giám định ký hiệu M2 không là ma túy, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,19 gam.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 14,79 gam, loại Methamphetamine; 0,68 gam, loại Heroine”.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thừa nhận do bản thân nghiện ma túy, nên đã mang theo 1.000.000 VNĐ (một triệu đồng) đi mua được 14,79 gam loại Methamphetamine và 0,68 gam, loại Heroine của một người đàn ông không quen biết tại khu vực bản Nhụng Dưới, xã CN, huyện MS, tỉnh Sơn La với mục đích để sử dụng cho bản thân là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lường Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng.

Xét tính chất vụ án:

Bị cáo biết rõ chất ma túy là loại hàng Nhà nước nghiêm cấm mua bán, tàng trữ và sử dụng trên thị trường, nhưng bị cáo vẫn cố tình mua ma túy cất giữ trên người với mục đích sử dụng cho bản thân là hành vi rất nguy hiểm cho xã hội, cần lên mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phần nào đối với bị cáo.

Về nhân thân: Năm 2019 bị cáo đã bị Công an huyện Sông Mã xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, bị cáo không ăn năn hối cải để rèn luyện tu dưỡng bản thân mà tiếp tục sử dụng ma túy dẫn đến phạm tội với số lượng ma túy bị cáo tàng trữ lớn (14,79 gam Methamphetamine và 0,68 gam Heroine). Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện.

Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh bị cáo thuộc hộ nghèo, không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án:

Đối với vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh nilon màu trắng, hồng, 02 túi nilon màu xanh cùng tang vật còn lại T1=7,23 gam Methamphetamine; T2=6,43 gam Methamphetamine; T3=0,58 gam Heroine được niêm phong trong một phong bì do Công an tỉnh Sơn La phát hành. Là vật không còn giá trị sử dụng và Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y12s, màu đen, kèm 01 sim điện thoại, đã qua sử dụng cũ, xác định là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ trong vụ án, bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực bản Nhụng Dưới, xã CN, MS, Sơn La) vào ngày 03/5/2022 với giá 1.000.000VNĐ. Việc mua bán trao đổi giữa hai bên không có người biết, chứng kiến. Ngoài lời khai của bị cáo, Cơ quan điều tra không có tài liệu, chứng cứ khác để điều tra, xác minh mở rộng vụ án. Buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm độc lập về toàn bộ khối lượng Heroine thu giữ trong vụ án là 0,68 gam và 14,79 gam Methamphetamine.

Đối với Mùa A Vàng, Cầm Văn Phượng và Cầm Văn Thủy quá trình điều tra xác định, Vàng, Phượng và Thủy đến nhà Lường Văn T chơi nhưng không biết T tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện MS không đặt vấn đề xử lý đối với Mùa A Vàng, Cầm Văn Phượng và Cầm Văn Thủy.

Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo do bị cáo thuộc hộ nghèo và là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lường Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lường Văn T 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 06 tháng 5 năm 2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: Vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, các mảnh nilon màu trắng, hồng, 02 túi nilon màu xanh cùng tang vật còn lại T1=7,23 gam Methamphetamine; T2=6,43 gam Methamphetamine; T3=0,58 gam Heroine được niêm phong trong một phong bì do Công an tỉnh Sơn La phát hành.

Trả lại cho bị cáo Lường Văn T 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo Y12s, màu đen, kèm 01 sim điện thoại, đã qua sử dụng cũ.

3. Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Báo cho bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ