vanban.org

Bản án 03/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mường Lay, tỉnh Điện Biên Tuyên án 12/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chìu Văn T, Điêu Văn P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

[2]. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Chìu Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/10/2021. Xử phạt bị cáo Điêu Văn P 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/10/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chìu Văn T cùng đồng phạm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chìu Văn T, Điêu Văn P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ MƯỜNG LAY
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2022/HS-ST
Ngày 12/01/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MƯỜNG LAY, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Thân Văn Hàm.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lưu Thị Thơm

Bà Khoàng Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: ông Thiều Tất Lơ - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Mường Lay.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mường Lay tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Đỗ - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2021/TLST-HS, ngày 24/11/2021theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2022/QĐXXST-HS ngày 31/12/2021 đối với các bị cáo:

1.Chìu Văn T (tên gọi khác: không); sinh năm 1979

Nơi ĐKHKTT: Tổ 5, phường SĐ, thị xã ML, tỉnh Điện Biên.

Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hóa: không; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Chìu Văn S – đã chết và bà: Điêu Thị H – đã chết; bị cáo có vợ là Lò Thị P - sinh năm 1981; Bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2011; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Đã bị kết án ngày 06/12/2012 Tòa án nhân dân thị xã Mường Lay xử phạt 24 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy , chưa bị xử phạt hành chính; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/10/2021 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Điêu Văn P (tên gọi khác: không); sinh năm 1974

Nơi ĐKHKTT: Bản Đ, phường NL, thị xã ML, tỉnh Điện Biên.

Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hóa: không; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Điêu Văn K (Đã chết) và bà: Lò Thị C – sinh năm 1956; bị cáo có vợ là Chìu Thị T - sinh năm 1977; Bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị kết án, 01 lần đi cơ sở giáo dục và 01 lần đi cai nghiện tập trung; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/10/2021 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Chìu Thị O sinh năm 1987 trú tại bản H, phường NL, thị xã ML, tỉnh Điện Biên có mặt.

Chìu Thị T sinh năm 1977 trú tại bản Đ, phường NL, thị xã ML, tỉnh Điện Biên có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 06 giờ 10 phút ngày 05/10/2021 tại khu vực Hạt kiểm lâm thị xã thuộc tổ 3 phường SĐ, thị xã ML, Công an thị xã Mường Lay phối hợp với Đội cảnh sát giao thông đường thủy, phòng PC08, Công an tỉnh Điện Biên bắt quả tang Chìu Văn T cùng Điêu Văn P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ của Chìu Văn T và Điêu Văn P 01 gói ny lon màu xanh bên trong có 02 gói giấy bạc màu vàng của bao thuốc lá đều chứa chất bột màu trắng (nghi Heroine)

Tại cơ quan điều tra Chìu Văn T và Điêu Văn P khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 04/10/2021 Chìu Văn T và Điêu Văn P mượn thuyền đánh cá của Chìu Thị O để ở chân cầu bản X, thuộc tổ 3, phường SĐ, thị xã ML, tỉnh Điện Biên đi đến bản C, xã LL, huyện NN, tỉnh Lai Châu để cùng nhau đánh bắt cá, sau khi đánh được cá, T và P đã bán cá được 200.000đ. P đi mua xăng hết 80.000đ, mua thuốc lá hết 20.000đ, còn lại 100.000đ cả hai người thống nhất đi mua ma túy về sử dụng chung. Đến 18 giờ cùng ngày P ở lại trông thuyền còn T đi lên đường trong bản C, xã LL, huyện NN, tỉnh Lai Châu tìm mua ma túy, T gặp 01 người đàn ông tự giới thiệu là Tr đang hàn thuyền ở trong bản, qua nói chuyện T biết Tr có Heroine bán nên T đã mua 01 gói Heroine với giá 100.000đ. Sau khi mua được Heroine T quay về thuyền tiếp tục đi đánh cá hướng về thị xã Mường Lay. Đến 22 giờ cùng ngày ở trên thuyền đánh cá T và Phấnlấy gói Heroine cắt lấy một ít để cùng nhau sử dụng, số còn lại T chia thành 05 gói nhỏ, bọc bằng giấy bạc màu vàng của vỏ bao thuốc lá cả hai cùng thống nhất để sử dụng chung nhau.

Đến 06 giờ 10 phút ngày 05/10/2021 P và T lên bờ mang cá bắt được đi bán, khi P đang điều khiển chiếc xe máy BKS: 27X1-018.84 chở T đi đến khu vực Hạt kiểm lâm thuộc tổ 3, phường Sông Đà, thị xã Mường Lay thì bị công an phát hiện bắt quả tang T đang cầm trên tay trái 05 gói nhỏ Heroine.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Mường Lay ngày 05/10/2021, xác định số Heroine thu giữ của Chìu Văn T và Điêu Văn P có khối lượng là 0,26g (Trích 0,09g gửi giám định).

Tại bản kết luận giám định số 1165/GĐ-PC09 ngày 15/10/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu vật chứng gửi giám định, vật chứng thu giữ của Chìu Văn T và Điêu Văn P là ma túy loại Heroine. (Không hoàn lại mẫu vật sau giám định). Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, SST: 9, mục IA, danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018.

Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKSML ngày 23/11/2021 của Viện kiểm sát dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Chìu Văn T và Điêu Văn P về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS.

Xử phạt bị cáo Chìu Văn T từ 13 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/10/2021.

Xử phạt bị cáo Điêu Văn P từ 12 tháng đến 13 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/10/2021.

Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS vì bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Hai Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đề nghị HĐXX Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì công văn của công an thị xã Mường Lay đã niêm phong trong đựng 0,17g Heroine vật chứng còn lại sau giám định.

Bị cáo Chìu Văn T và bị cáo Điêu Văn P tại phiên tòa nhất trí với bản luận tội của Viện kiểm sát. Hai Bị cáo không có ý kiến tranh luận và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày không biết các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và không có yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Chìu Văn T và bị cáo Điêu Văn P đã khai nhận hành vi của bản thân như sau: Bị cáo Chìu Văn T thừa nhận ngày 04/10/2021 có mua Heroine của một người đàn ông tên Tr ở bản C, xã LL, huyện NN, tỉnh Lai Châu với mục đích để sử dụng chung nhau, sau khi mua được Heroine hai bị cáo đi lên bờ để bán cá khi đi đến khu vực Hạt kiểm Lâm thị xã thì bị Công an thị xã Mường Lay phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ số Heroine có khối lượng 0,26g. Lời khai của hai bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ cũng như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố đối hai với bị cáo.

Do đó HĐXX đã có đủ cơ cơ để kết luận hành vi mua Heroine với mục đích để sử dụng của hai bị cáo Chìu Văn T và Điêu Văn P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS như kết luận của Viện kiểm sát là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật, không oan sai. Hai Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện

. Xét tính chất mức độ và hậu quả của tội phạm: Hành vi của hai bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp chính sách độc quyền của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các chất ma túy, tiếp tay cho các loại tội phạm khác làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn thị xã. Hai Bị cáo tàng trữ 0,26g Heroine với mục đích để sử dụng, hành vi của các bị cáo được coi là phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Hành vi của các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mường Lay truy tố, kết luận phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là hoàn toàn chính xác, có căn cứ đúng pháp luật, không oan sai.

. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt: Bị cáo Chìu Văn T có nhân thân xấu đã từng bị kết án cụ thể ngày 06/12/2012 Tòa án nhân dân thị xã Mường Lay xử phạt 24 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy; Bị cáo Điêu Văn P là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Hai Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hai bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Xét vị trí vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, đều giữ vai trò là người thực hành, hai bị cáo cùng nhau đi đánh cá và thống nhất bỏ ra 100.000đ tiền bán cá để đi mua ma túy về sử dụng chung cụ thể: bị cáo Chìu Văn T là người trực tiếp đi mua ma túy, còn bị cáo Điêu Văn P là ở lại thuyền coi thuyền khi bị cáo T đi mua ma túy.

Từ những phân tích về hành vi vi phạm của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân động cơ mục đích của hai bị cáo. Xét thấy mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với hai bị cáo là có cơ sở cần chấp nhận. HĐXX áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với hai bị cáo để giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, có ý thức chấp hành pháp luật đủ sức răn đe đối với các bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung: Qua việc xét hỏi tại phiên tòa hôm nay, căn cứ vào biên bản xác minh của Cơ quan điều tra HĐXX xét thấy gia đình hai bị cáo không có tài sản nào có giá trị. Vì vậy, nếu phạt tiền thì hai bị cáo không có khả năng thi hành hình phạt này. Do đó, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với hai bị cáo.

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Hai Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS Tịch thu tiêu hủy 0,17 g Heroine là vật chứng của vụ án còn lại sau khi giám định.

. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; và điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016, Mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

. Về các vấn đề khác: Trong vụ án này có một người đàn ông tên Trường bán ma túy cho bị cáo Thiện, do bị cáo không biết rõ địa chỉ cụ thể . Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác mình ở bản C, xã LL, huyện NN không có ai tên Tr khoảng 40 đến 50 tuổi nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.

Đối với chị Chìu Thị O sinh năm 1987 trú tại bản H, phường NL, thị xã ML, tỉnh Điện Biên đã cho bị cáo Phấn mượn thuyền đi đánh cá, việc bị cáo sử dụng thuyền vào việc đi mua ma túy chị O không biết nên HĐXX không đề cập xử lý trong vụ án này.

Đối với chị Chìu Thị T sinh năm 1977 trú tại bản Đ, phường NL, thị xã ML, tỉnh Điện Biên là chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe máy YAMAHA SIRIUSFI, BKS 27X1 -018.84 chị Tikhông biết bị cáo P sử dụng xe của chị vào việc gì nên HĐXX không đề cập giải quyết trong vụ án này.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chìu Văn T, Điêu Văn P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

[2]. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Chìu Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/10/2021.

Xử phạt bị cáo Điêu Văn P 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/10/2021.

[3]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy 0,17g Heroine là vật chứng còn lại sau khi giám định được đựng trong một phong bì công văn của Công an thị xã Mường Lay đã được niêm phong . (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Mường Lay và Chi Cục thi hành án Dân sự thị xã Mường Lay ngày 25/11/2021)

[4]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ Luật Tố tụng hình sự; và điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016, Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/01/2022). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ