- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma tuy - H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thị H phạm tội“Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy và nộp ngân sách Nhà nước; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2022/HS-ST Ngày 07-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H,TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thống.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Trạng;
2. Bà Ngô Thị Diễm Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Hồ Long Hồ - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2021/TLST-HS, ngày 23 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2021/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 12 năm 2021, đối với bị cáo:
Trần Thị H, sinh ngày 17/8/1990 tại Đồng Tháp; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khóm A, phường B, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; con ông Trần Ngọc N, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1971; gia đình có 03 chị, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; hiện đang sống chung như vợ chồng với Bùi Văn P, sinh năm 1987; con: Không có; tiền sự: Chưa có; tiền án: Chưa có; tạm giữ: Ngày 12/10/2021; tạm giam: Từ ngày 15/10/2021 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bùi Văn P, sinh năm 1988 (vắng mặt);
2. Trần Văn T1, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Cùng nơi cư trú: Khóm E, phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng:
1. Nguyễn Hoàng B, sinh năm 2000 (văng mặt);
2. Nguyễn HA, sinh năm 1999 (vắng mặt).
Cùng nơi cú trú: Khóm E, phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 20 Pt, ngày 12/10/2021, Trần Văn T1, sinh năm 1984, ngụ khóm 1, phường T, thành phố H đến nhà Bùi Văn P, sinh năm 1988, tại Khóm E, phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp gặp Trần Thị H (H sống chung như vợ chồng với P) mua 01 (một) bịch ma túy với giá 150.000 đồng. Sau khi mua ma túy xong, T1 tự ý lấy dụng cụ sử dụng ma túy trong nhà P ra sử dụng một mình. Sau đó P về đến nhà, thời điểm này Nguyễn HA, sinh năm 1999 và Nguyễn Hoàng B1, sinh năm 2000 cùng ngụ Khóm E, phường T, thành phố H cũng đến nhà P chơi nhưng không sử dụng ma túy với T1.
Đến khoảng 15 giờ 40 Pt cùng ngày 12/10/2021, Công an phường T, kiểm tra hành chính tại nhà của Bùi Văn P, phát hiện H đang cất giấu 01 (một) bịch nylon màu trắng, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng (nghi là là ma túy tổng hợp) chưa xác định trọng lượng nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, Công an đã thu giữ: 01 (một) bịch nylon dạng nắp kẹp, viền đỏ, bên trong có 01 bịch nylon được hàn kín, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng (nghi là là ma túy tổng hợp) chưa xác định trọng lượng, được để trong một hộp mủ nhựa màu đỏ, bên ngoài được quắn băng keo màu xanh lá, cùng một đoạn kim loại màu bạc phía trên, 01 (một) hộp giấy hình vuông, màu vàng, có nắp đậy, phía trên có ghi dòng chữ “Tiệm vàng kim Hoa Nhung (Bé Sáu)” kích thước 9 x 9 x 3 cm bên trong gồm có: 01 (một) đoạn ống hút sọc vàng - trắng, một đầu bích, một đầu nhọn, 01 (một) đoạn mủ nhựa trong suốt, 02 đầu nhọn, có quắn băng keo màu đen ở đoạn giữa, 05 (năm) bịch nylon trong suốt, 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong, 01 (một) giá đỡ bằng gỗ màu vàng, phía trên giá đỡ có dán 01 ly thủy tinh loại nhỏ, có hoa văn màu đỏ trắng, 01 (một) đoạn đầu chai nhựa có nắm đậy màu xanh lá, phía trên có gắn một đoạn ống hút nhựa màu trắng – tím và một đoạn thủy tinh trong suốt, 01 (một) bật lửa (hột quẹt) màu trắng, đã qua sử dụng, 01 (một) chai (bình) ga mini hiệu Bluesky, đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số: 836/KL-KTHS, ngày 15/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự (KTHS) Công an tỉnh Đồng Tháp. Kết luận: “Tinh thể rắn màu trắng chứa trong 01 bịch nylon màu trắng, được niêm phong trong phong bì nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có tổng khối lượng 1,375 gam, loại Methamphetamine.”
Trong quá trình điều tra, Trần Thị H khai nhận: Khối lượng ma túy bị bắt quả tang là của H, mua của một người thanh niên (không rõ họ tên) tại khu vực gần cầu H, thuộc phường An Lộc, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 11/10/2021 với giá 2.000.000 đồng, mục đích bán cho các đối tượng nghiện và sử dụng cho bản thân. Cụ thể đã bán cho một người thanh niên không rõ họ tên 01 (một) bịch ma túy với giá 200.000 đồng và bán cho Trần Văn T1 01 (một) bịch ma túy với giá 150.000 đồng (chưa nhận tiền); 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu đen, H sử dụng để liên lạc với đối tượng bán ma túy. Những đồ vật còn lại dùng để sử dụng ma túy là của P.
Qua điều tra Trần Thị H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đã thực hiện.
Tại bản cáo trạng số: 72/CT-VKSTPHN, ngày 22 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Trần Thị H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo Trần Thị H đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Thị H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thị H mức hình phạt từ 02 năm đến 03 năm tù; Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo sống bằng nghề làm thuê, không có thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Đối với việc Trần Thị H khai nhận bán ma túy cho một người thanh niên không rõ họ tên 01 (một) bịch ma túy với giá 200.000 đồng. Do không rõ đối tượng, chưa làm việc được, do đó không có căn cứ để xử lý đối với Trần Thị H với tình tiết phạm tội 02 lần trở lên.
Đối với việc Trần Thị H khai nhận số lượng ma túy mua của một người thanh niên (không rõ họ tên) tại khu vực gần cầu H, thuộc phường An Lộc, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 11/10/2021 với giá 2.000.000 đồng. Qua xác minh không rõ đối tượng, Cơ quan điều tra chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.
Đối với số lượng ma túy Trần Thị H bị bắt quả tang vào ngày 12/10/2021. Quá trình điều tra H khai nhận ma túy trên mục đích để bán và sử dụng cá nhân nhưng khối lượng tàng trữ để sử dụng bao nhiêu gam H không xác định nên không có căn cứ để để xử lý H về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” do đó không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.
Đối với việc Trần Văn T1 tự ý lấy dụng cụ và sử dụng ma túy tại nhà của Bùi Văn P. Qua điều tra xác định việc T1 lấy dụng cụ (do T1 thường xuyên đến nhà P chơi nên biết dụng cụ sử dụng ma túy P để trong nhà) và sử dụng ma túy tại nhà của P, P hoàn toàn không biết nên không xem xét xử lý đối với P về hành vi “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” do đó không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.
- Về vật chứng gồm: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) túi niêm phong có chữ ký, ghi họ tên Trần Thị H, Lê Văn Ngoan, Lê Văn Trí, Võ Minh Sang và Nguyễn Trần Quân Bảo có đóng dấu mộc đỏ tròn của Công an phường T, thành phố H; có niêm phong số 880, ngày 13/10/2021, đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp và các chữ ký, ghi họ tên Lê Minh Vương, Đinh Nhựt Dững, Nguyễn Phong Danh, Trần Thị H, 01 (một) hộp giấy hình vuông, màu vàng, có nắp đậy, phía trên có ghi dòng chữ “Tiệm vàng kim Hoa Nhung (Bé Sáu)” kích thước 9 x 9 x 3 cm, 01 (một) đoạn ống hút sọc vàng-trắng, một đầu bích, một đầu nhọn, 01 (một) đoạn mủ nhựa trong suốt, 02 đầu nhọn, có quắn băng keo màu đen ở đoạn giữa; 05 (năm) bịch nylon trong suốt, 01 (một) giá đỡ bằng gỗ màu vàng, phía trên giá đỡ có dán 01 ly thủy tinh loại nhỏ, có hoa văn màu đỏ trắng, 01 (một) đoạn đầu chai nhựa có nắm đậy màu xanh lá, phía trên có gắn một đoạn ống hút nhựa màu trắng – tím và một đoạn thủy tinh trong suốt, 01 (một) bật lửa (hột quẹt) màu trắng, đã qua sử dụng, 01 (một) chai (bình) ga mini hiệu Bluesky, đã qua sử dụng. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu đen. Buộc Trần Thị H nộp 200.000 đồng để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước vì đây là tiền do phạm tội mà có.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 12/10/2021, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án, bị cáo thống nhất với nội dung luận tội của Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật hình sự, nhưng xuất phát từ việc muốn có tiền tiêu xài và có ma túy sử dụng nên bị cáo đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho người. Cụ thể là vào lúc 15 giờ 40 Pt ngày 12/10/2021, khi Công an phường T tiến hành kiểm tra hành chính nhà của Bùi Văn P thì phát hiện Trần Thị H đang cất giấu 01 bịch nylon màu trắng, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy tổng hợp nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Căn cứ Bản kết luận giám định số: 836/KL-KTHS, ngày 15/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự (KTHS) Công an tỉnh Đồng Tháp. Kết luận: “Tinh thể rắn màu trắng chứa trong 01 bịch nylon màu trắng, được niêm phong trong phong bì nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có tổng khối lượng 1,375 gam, loại Methamphetamine.”
Trong quá trình điều tra Trần Thị H khai nhận, khối lượng ma túy bị bắt quả tang của H mua của một người thanh niên (không rõ họ tên) tại khu vực gần cầu H, thuộc phường An Lộc, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 11/10/2021 với giá 2.000.000 đồng; Mục đích bán cho các đối tượng nghiện và sử dụng cho bản thân. Cụ thể đã bán cho một người thanh niên không rõ họ tên 01 (một) bịch ma túy với giá 200.000 đồng và bán cho Trần Văn T1 01 (một) bịch ma túy với giá 150.000 đồng (chưa nhận tiền).
Căn cứ lời thừa nhận của bị cáo, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 12/10/2021 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Trần Thị H đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
Đối với việc Trần Thị H khai nhận bán ma túy cho một người thanh niên không rõ họ tên 01 (một) bịch ma túy với giá 200.000 đồng. Do không rõ đối tượng, chưa làm việc được, do đó không có căn cứ để xử lý đối với Trần Thị H với tình tiết phạm tội 02 lần trở lên.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.
Như chúng ta đã biết, hậu quả của việc sử dụng trái phép chất ma túy gây ra cho xã hội rất nặng nề, nó đang làm hủy hoại sức khỏe của chính người sử dụng, xói mòn sự tồn tại và phát triển của loài người, tàn phá cuộc sống yên vui gia đình của người sử dụng, gây tác hại trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa, là nguyên nhân phát sinh tội phạm, các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định và phát triển của xã hội.
Hiện nay, tình trạng tàng trữ ma túy để sử dụng và mua bán trái phép trên cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố H nói riêng xảy ra ngày càng nhiều với tính chất hết sức phức tạp. Nhằm để ổn định tình hình chính trị tại địa phương, góp phần vào công cuộc phòng chống và ngăn ngừa tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
Về nhân thân của bị cáo:
Bị cáo chưa có tiền sự, tiền án, nhưng do nghiện ma túy và muốn có tiền tiêu xài và có ma túy sử dụng bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy. Điều đó thể hiện bị cáo thiếu ý thức trong việc tu dưỡng rèn luyện nhân cách.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con người tốt có ích cho gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Đồng thời, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như bị cáo.
Đối với việc Trần Thị H khai nhận số lượng ma túy mua của một người thanh niên (không rõ họ tên) tại khu vực gần cầu H, thuộc phường An Lộc, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 11/10/2021 với giá 2.000.000 đồng. Qua xác minh không rõ đối tượng, Cơ quan điều tra chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
Đối với số lượng ma túy Trần Thị H tàng trữ bị bắt quả tang vào ngày 12/10/2021. Quá trình điều tra H khai nhận khối lượng ma túy trên mục đích để bán và sử dụng cá nhân nhưng khối lượng tàng trữ để sử dụng bao nhiêu gam H không xác định nên không có căn cứ để để xử lý H về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
Đối với việc Trần Văn T1 tự ý lấy dụng cụ và sử dụng ma túy tại nhà của Bùi Văn P. Qua điều tra xác định việc T1 lấy dụng cụ sử dụng ma túy của P và sử dụng ma túy tại nhà của P, P hoàn toàn không biết nên không xem xét xử lý đối với P về hành vi “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” do đó Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
Về vật chứng vụ án:
Đối với số lượng ma túy và các vật liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, gồm: 01 (một) túi niêm phong có chữ ký, ghi họ tên Trần Thị H, Lê Văn Ngoan, Lê Văn Trí, Võ Minh Sang và Nguyễn Trần Quân Bảo có đóng dấu mộc đỏ tròn của Công an phường T, thành phố H; có niêm phong số 880, ngày 13/10/2021, đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp và các chữ ký, ghi họ tên Lê Minh Vương, Đinh Nhựt Dững, Nguyễn Phong Danh, Trần Thị H, 01 (một) hộp giấy hình vuông, màu vàng, có nắp đậy, phía trên có ghi dòng chữ “Tiệm vàng kim Hoa Nhung (Bé Sáu)” kích thước 9 x 9 x 3 cm, 01 (một) đoạn ống hút sọc vàng-trắng, một đầu bích, một đầu nhọn, 01 (một) đoạn mủ nhựa trong suốt, 02 đầu nhọn, có quắn băng keo màu đen ở đoạn giữa, 05 (năm) bịch nylon trong suốt, 01 (một) giá đỡ bằng gỗ màu vàng, phía trên giá đỡ có dán 01 ly thủy tinh loại nhỏ, có hoa văn màu đỏ trắng, 01 (một) đoạn đầu chai nhựa có nắm đậy màu xanh lá, phía trên có gắn một đoạn ống hút nhựa màu trắng – tím và một đoạn thủy tinh trong suốt, 01 (một) bật lửa (hột quẹt) màu trắng, đã qua sử dụng, 01 (một) chai (bình) ga mini hiệu Bluesky, đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu đen. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy và nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp pháp luật.
Đối với số tiền 200.000đồng mà bị cáo bán ma túy có được, xét thấy đây là nguồn thu lợi bất chính nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên buộc bị cáo nộp lại để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo sống bằng nghề làm thuê, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp pháp luật.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Thị H phạm tội“Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Thị H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ: Ngày 12/10/2021.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi niêm phong có chữ ký, ghi họ tên Trần Thị H, Lê Văn Ngoan, Lê Văn Trí, Võ Minh Sang và Nguyễn Trần Quân Bảo có đóng dấu mộc đỏ tròn của Công an phường T, thành phố H; có niêm phong số 880, ngày 13/10/2021, đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Tháp và các chữ ký, ghi họ tên Lê Minh Vương, Đinh Nhựt Dững, Nguyễn Phong Danh, Trần Thị H; 01 (một) hộp giấy hình vuông, màu vàng, có nắp đậy, phía trên có ghi dòng chữ “Tiệm vàng kim Hoa Nhung (Bé Sáu)” kích thước 9 x 9 x 3 cm; 01 (một) đoạn ống hút sọc vàng-trắng, một đầu bích, một đầu nhọn; 01 (một) đoạn mủ nhựa trong suốt, 02 đầu nhọn, có quắn băng keo màu đen ở đoạn giữa; 05 (năm) bịch nylon trong suốt; 01 (một) giá đỡ bằng gỗ màu vàng, phía trên giá đỡ có dán 01 ly thủy tinh loại nhỏ, có hoa văn màu đỏ trắng; 01 (một) đoạn đầu chai nhựa có nắm đậy màu xanh lá, phía trên có gắn một đoạn ống hút nhựa màu trắng – tím và một đoạn thủy tinh trong suốt; 01 (một) bật lửa (hột quẹt) màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) chai (bình) ga mini hiệu Bluesky, đã qua sử dụng.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu đen.
(Tất cả các vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H đang quản lý, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/11/2021).
Buộc Trần Thị H nộp lại số tiền 200.000đồng để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Thị H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 07/01/2022). Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND TP. H; - Nhà tạm giữ Công an TP. H; - Cơ quan CSĐT Công an TP. H; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - VKSND. TX. H; THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Thống |