- Tranh chấp gì? án hình sự — "lương tiến D - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Tiến D phạm tội “Vi phạm quy định
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 03/2022/HS-ST Ngày: 18/01/2022 |
HUYỆN VĂN YÊN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ___________________________
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Thoảng Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lý Trung Hiếu 2. Bà Nguyễn Hoàng Liên - Thư ký phiên toà: Ông Trần Tiến Thành – Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái: Ông Nguyễn Cao Cường – Kiểm sát viên. Ngày 18 tháng 01 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2022/QĐXXST- HS ngày 07/01/2022 đối với bị cáo: Lương Tiến D (tên gọi khác: Không) sinh ngày 25/03/2003. Tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Thôn K, xã G, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Không có và bà Lương Thị V. Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/09/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – có mặt. - Bị hại: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1999. Nơi cư trú: Thôn L, xã S, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – có mặt. - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Anh Hoàng Văn N sinh năm 1993. Nơi cư trú: Thôn D, xã S, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – có mặt. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lương Thị V, sinh năm 1962. Nơi cư trú: Thôn K, xã L, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – có mặt.
Anh Hoàng Văn K, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Thôn L, xã S, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – có mặt. - Người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng: - Anh Lã Văn H. Nơi cư trú: Thôn H, xã G, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – vắng mặt. - Anh Đỗ Văn D. Nơi cư trú: Thôn H, xã G, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – vắng mặt. - Anh Lưu Ngọc H. Nơi cư trú: Thôn H, xã G, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – vắng mặt. Người chứng kiến: - Anh Vi Văn N. Nơi cư trú: Thôn G, xã H, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – vắng mặt. - Anh Vi Văn Đ. Nơi cư trú: Thôn G, xã H, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ ngày 23/5/2021 Lương Tiến D điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát: 21E1 - 496.38 nhãn hiệu HONDA WAVE ANPHA chở theo Lã Văn H ngồi phía sau đi từ xã G xuống thị trấn Mậu A, huyện Văn Yên. Đi cùng với D và H còn có xe mô tô do Đỗ Văn D điều khiển chở theo Lưu Ngọc H cùng trú tại xã G, huyện Văn Yên. D điều khiển xe mô tô đèo H đi từ xã G qua cầu Trái Hút thuộc xã B sang xã A, sau đó tiếp tục di chuyển theo tuyết đường Đông An - Quy Mông để qua xã H về thị trấn Mậu A. Đến khoảng gần 17 giờ cùng ngày khi Lương Tiến D điều khiển xe mô tô đi đến đoạn đường liên thôn thuộc thôn G, xã H, huyện Văn Yên thì D tăng tốc để vượt qua xe của D đang điều khiển đi phía trước cách vị trí D vượt xe mô tô do D điều khiển khoảng 70m có một ngã ba đường rẽ từ thôn G, xã H đi thôn Đá Bia, xã Tân Hợp. Khi vượt qua xe mô tô do D điều khiển, Lương Tiến D điều khiển xe đi sang phần đường bên trái theo hướng đi của mình do không quan sát đường phía trước mà nhìn sang bên trái để nhìn đường Cao tốc Nội Bài - Lào Cai cùng lúc này Hoàng Văn T trú tại thôn L, xã S, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 21E1 - 450.43 đi theo hướng từ xã T đi xã H (từ thôn Đá Bia, xã Tân Hợp đi thôn Gốc Gạo, xã Tân Hợp) để đến xã Phong Dụ Hạ. Khi Thuyết điều khiển xe mô tô qua ngã ba cách khoảng 07 mét, xe mô tô do Thuyết điều khiển đã di chuyển sang phần đường bên phải theo chiều đi
của mình hướng từ xã H đi xã A thì bị xe mô tô do Lương Tiến D điều khiển đâm va vào phần đầu xe mô tô của T. Hậu quả, Hoàng Văn T bị thương được mọi người đưa đi cấp cứu còn D và H bị thương tích nhẹ và hư hỏng 02 xe mô tô. Kết quả dựng lại hiện trường xác định: Vị trí xảy ra tai nạn là đoạn đường giao nhau thuộc khu vực ngã ba, lòng đường rộng 04 mét mặt đường chải nhựa trên bề mặt có nhiều đất, đá nhỏ và ổ gà không có giải phân cách, không có biển báo, tầm nhìn bị hạn chế. Quá trình điều tra xác định nguyên nhân dẫn đến tai nạn là do Lương Tiến D điều khiển xe tham gia giao thông không có gấy phép lái xe theo quy định và đi không đúng phần đường theo chiều đi của mình đã vi phạm khoản 9 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ: “Điều khiển cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định; Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định …”. Hành vi đó của bị cáo Lương Tiến D đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Sau khi xảy ra tai nạn Hoàng Văn T được mọi người đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện Văn Yên sau đó được chuyển lên Bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái điều trị trương tích từ ngày 23/5/2021 đến ngày 08/6/2021 tổng chi phí hết 27.440.000đồng (Hai bẩy triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng). Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định thương tích, xác định phần trăm tổn hại sức khỏe của Hoàng Văn T và trưng cầu định giá thiệt hại đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 21E1 - 450.43 của anh Hoàng Văn T và chiếc xe mô tô biển kiểm soát 21E1 - 496.38 của Lương Tiến D. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 110/TgT, ngày 22/7/2021 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Yên Bái, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 82% (tám mươi hai phần trăm). Tại bản kết luận đinh giá tài sản số: 30/ĐGTS-HĐĐG ngày 11/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Văn Yên, kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại: WINNERX mầu sơn: đỏ - xanh - đen - trắng, biển kiểm soát 21E1 - 450.43, xe cũ đã qua sử dụng, có giá trị thiệt hại tại thời điểm ngày 23/5/2021 là: 3.605.000 đồng (Ba triệu sáu trăm linh năm nghìn đồng). Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại: WAVE mầu sơn đen, biển kiểm soát 21E1 - 496.38, xe cũ đã qua sử dụng, có giá trị thiệt hại tại thời điểm ngày 23/5/2021 là: 3.552.000 đồng (Ba triệu năm trăm lăm mươi hai nghìn đồng). Tại bản cáo trạng số: 03/CT-VKS-VY ngày 27/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên đã truy tố: Lương Tiến D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 điều 260 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lương Tiến D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Căn cứ khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo và bị hại, gia đình bị hại đã tự nguyện thỏa thuận về bồi thường dân sự tổng cộng các khoản là 100.000.000đồng (Một trăm triệu đồng). Bị hại và gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền 100.000.000đồng (Một trăm triệu đồng) của gia đình bị cáo và không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về phần dân sự trong vụ án. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. - Trả lại cho anh Hoàng Văn T: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WINNERX , màu sơn đỏ-xanh-đen-trắng, BKS: 21E1-450.43; xe cũ đã qua sử dụng, trong xe không có đồ vật, tài sản gì, không kiểm tra chi tiết máy bên trong; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 032569 mang tên Hoàng Văn T; 01 giấy phép lái xe số: 150189001076 mang tên Hoàng Văn T; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô – xe máy số: 2319050314287. - Trả lại cho bà Lương Thị V: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE màu sơn đen. BKS: 21E1-496.38; xe cũ đã qua sử dụng, trong xe không có đồ vật, tài sản gì. Không kiểm tra chi tiết máy bên trong; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 21000094 mang tên Lương Tiến D. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật. Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an và Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục
quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Quá trình hỏi và tranh luận tại phiên tòa bị cáo đã khai phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng của vụ án đã thu giữ, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ 00 phút, ngày 23/5/2021 bị cáo Lương Tiến D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda số loại: WAVE mầu sơn đen, biển kiểm soát 21E1 - 496.38 chở theo Lã Văn H ngồi phía sau tham gia giao thông và đi không đúng phần đường của mình, đi từ xã G theo đường Đông An - Quy Mông về thị trấn Mậu A, khi đến đoạn đường liên thôn thuộc thôn G, xã H, huyện Văn Yên đã đâm va vào xe môtô do Hoàng Văn T điều khiển chạy bên phần đường bên phải theo hướng ngược lại. Hậu quả Hoàng Văn T bị thương tổn hại 82% sức khỏe và thiệt hại về tài sản là 3.552.000đồng (Ba triệu năm trăm năm hai nghìn đồng), còn D và H bị thương tích nhẹ. Bị cáo Lương Tiến D điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe theo quy định. Hành vi nêu trên của bị cáo Lương Tiến D đã vi phạm khoản 9 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ: “Điều khiển cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định; Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định …”. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 điều 260 Bộ luật Hình sự. Do đó cáo trạng số: 03/CT-VKS-VY ngày 27/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đã truy tố bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và được Hội đồng xét xử chấp nhận. [3] Về hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được việc tham gia giao thông không có giấy phép lái xe và đi không đúng phần đường, làn đường quy định là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo không chấp hành pháp luật nên dẫn đến phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây thiệt hại về sức khỏe và tài sản cho anh Hoàng Văn T. Do vậy cần đưa bị cáo ra xử lý bằng pháp luật để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. [4] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. [5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có [6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên toà bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường đầy đủ theo yêu cầu của bị hại và gia đình bị hại là 100.000.000đồng (Một trăm triệu đồng). Tại phiên
tòa bị hại và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1; 2 điều 51 Bộ luật Hình sự. Để giảm hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách hình sự nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy nên phải có một mức án phù hợp với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng và có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự và 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và phòng ngừa tội phạm nói chung. [7] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo và bị hại, gia đình bị hại đã tự nguyện thỏa thuận về bồi thường dân sự các khoản tổng cộng là 100.000.000đồng (Một trăm triệu đồng). Bị hại và gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền 100.000.000đồng (Một trăm triệu đồng) của gia đình bị cáo và không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về phần dân sự trong vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét. [8] Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, BKS: 21E1-450.43 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 032569 mang tên Hoàng Văn T; 01 giấy phép lái xe số: 150189001076 mang tên Hoàng Văn T; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô – xe máy số: 2319050314287 là tài sản hợp pháp của bị hại Hoàng Văn T. Do vậy cần trả lại cho Hoàng Văn T. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE màu sơn đen. BKS: 21E1-496.38; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 21000094 mang tên Lương Tiến D. Bà Lương Thị V là người quản lý hợp pháp tài sản trên. Do vậy cần trả lại chiếc xe và đăng ký xe cho bà Lương Thị V. [9] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật. [10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Bị hại; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Tiến D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. 2. Về hình phạt và điều luật áp dụng: * Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Tiến D 03 (ba) năm tù cho hưởng án treo.Thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lương Tiến D cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Lương Tiến D có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo Lương Tiến D thay đổi nơi cư trú thì thực theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Căn cứ khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Lương Tiến D nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác. 3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. - Trả lại cho anh Hoàng Văn T: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WINNERX , màu sơn đỏ-xanh-đen-trắng, BKS: 21E1-450.43; xe cũ đã qua sử dụng, trong xe không có đồ vật, tài sản gì, không kiểm tra chi tiết máy bên trong; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 032569 mang tên Hoàng Văn T; 01 giấy phép lái xe số: 150189001076 mang tên Hoàng Văn T; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô – xe máy số: 2319050314287. - Trả lại cho bà Lương Thị V: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE màu sơn đen. BKS: 21E1-496.38; xe cũ đã qua sử dụng, trong xe không có đồ vật, tài sản gì. Không kiểm tra chi tiết máy bên trong; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 21000094 mang tên Lương Tiến D. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/12/2021 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. 4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Bị cáo Lương Tiến D phải chịu 200.000đồng tiền án phí HSST. 5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo; Bị hại được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 L[ uật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái - Công an huyện Văn Yên - VKSND huyện Văn Yên - VKSND tỉnh Yên Bái - THADS huyện Văn Yên - THA phạt tù. - Bị cáo. - Những người tham gia tố tụng - UBND xã G. - Lưu HS – TQĐ(2). | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Chu Thị Thoảng |