vanban.org

Bản án 03/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu Tuyên án 11/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn L 18 (mười tám) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn từ được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LÒ VĂN L - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN TAM ĐƢỜNG
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2022/HS-ST
Ngày: 11/5/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƢỜNG, TỈNH LAI CHÂU

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Thanh Bắc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Phan Văn Sân.

Ông: Vàng Văn Kẻo.

Thư ký phiên toà:Ông Sùng A Thắng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Hữu – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 5 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Lò Văn L – (tên gọi khác: Không), Sinh ngày: 02/8/2003 tại huyện T, tỉnh Lai Châu.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản NĐ, xã BL, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Lò Văn H, sinh năm 1980; Con bà: Vàng Thị L1, sinh năm 1980; Gia đình bị cáo có 02 chị, em ruột. Bị cáo là con thứ hai trong gia đình; bị cáo chưa có vợ; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Lò Văn L được áp dụng biện pháp ngăn chặn ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/1/2022 giao bị cáo cho UBND xã BL, huyện T, tỉnh Lai Châu theo dõi quản lý đến nay “có mặt tại phiên tòa”.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Lò Văn H, sinh năm 1980. Địa chỉ:Bản NĐ, xã BL, huyện T, tỉnh Lai Châu “có mặt”.

Người làm chứng:

Lò Văn T1, sinh ngày: 13/10/2003. Địa chỉ:Bản NP, xã BL, huyện T, tỉnh Lai Châu “vắng mặt không có lý do”.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Mạnh Hùng– Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lai Châu “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ ngày 06/1/2022 Lò Văn L sinh ngày: 02/8/2003 trú tại bản NĐ, xã BL, huyện T, tỉnh Lai Châu điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS: 25B1 - 773.63 đi từ nơi ở của mình đến nhà Lù Văn S sinh năm: 1995 trú tại bản NĐ, xã BL, huyện T, tỉnh Lai Châu. Tại đây, do L đang nợ S số tiền 500.000 đồng, nên S đưa cho L 07 gói Heroine mỗi gói đều được gói ngoài bằng mảnh giấy trắng và bảo L bán mỗi gói 100.000 đồng, bán hết số Heroine trên S trả cho L số tiền 100.000 đồng. L nhất trí, cầm số Heroine trên rồi lấy 04 gói Heroine cho vào vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng L, còn 03 gói Heroine còn lại L lấy tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng gói lại bên ngoài rồi cất giấu tất cả số Heroine trên vào trong túi quần bên phải đang mặc trên người để bán kiếm lời.

Đến khoảng 21 giờ cùng ngày L điều khiển xe mô tô BKS: 25B1- 773.63 đi đến khu vực đường bê tông thuộc bản NĐ, xã BL, huyện T thì gặp Lò Văn T1 sinh năm: 2003 trú tại bản NP, xã BL, huyện T. Gặp L, T1 hỏi mua Heroine và đưa cho L số tiền 100.000 đồng, L nhất trí bán, cầm tiền T1 đưa L cất giấu vào trong ví rồi cả hai tiếp tục điều khiển xe mô tô đi đến gần cầu bê tông thuộc bản NĐ, xã BL, huyện T. Tại đây, L lấy trong bao thuốc lá 01 gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh giấy màu trắng bán cho T1. Sau khi mua được Heroine T1 mang về nhà và sử dụng hết bằng hình thức hít. Bán Heroine xong L cầm 100.000 đồng do bán Herione mà có đi mua 01 bao thuốc lá Thăng L hết 12.000 đồng, số tiền còn lại L cất vào trong ví của mình, do phải chở bạn đi đến thị trấn T để bắt xe đi Hà Nội, sợ mang theo Heroine trên người bị phát hiện nên L đã cất giấu 06 gói Heroine còn lại tại bụi cây gần cầu bê tông thuộc bản NĐ (03 gói Heroine trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng L; 03 gói Heroine được gói ngoài bằng tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng). Đến khoảng 23 giờ cùng ngày L đi đến bụi cây đã cất giấu Heroine để lấy số Heroine còn lại (06 gói) rồi cho vào trong túi quần bên phải đang mặc để ai hỏi mua thì bán kiếm lời. Lấy Heroine xong L đi đến bãi đất trống thuộc bản NĐ và ngồi uống bia tại đây. Đến khoảng 00 giờ 02 phút ngày 07/1/2022 thấy có 10 người đang ngồi uống bia tại khu vực bãi đất trống thuộc địa phận bản NĐ, xã BL, công an xã BL đến đề nghị mọi người giải tán, không được tập trung đông người. Thấy Lò Văn L có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy công an xã BL đã giải thích và yêu cầu L trên người có đồ vật liên quan đến phạm tội thì tự giác khai báo, Lò Văn L tự khai nhận đang tàng trữ 06 gói Heroine trong túi quần bên phải đang mặc trên người. Công an xã BL đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Tại bản kết luận giám định số 33/KLGĐ cùng ngày 07/1/2022 của ông Phan Văn Huỳnh - Người giám định tư pháp theo vụ việc trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự, theo Quyết định công bố danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc lĩnh vực kỹ thuật hình sự trên địa bàn tỉnh Lai Châu. Kết luận:

Số chất bột khô màu trắng thu giữ của Lò Văn L có tổng khối lượng là: 0,17 gam (Không phẩy mười bẩy gam).

Tại bản kết luận giám định số 603/GĐ-KTHS ngày 12/1/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 06 mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn L gửi giám định là ma túy: loại Heroine.

Ngoài ra cơ quan điều tra còn tạm giữ của Lò Văn L số tiền 457.000 đồng (Trong đó có 88.000 đồng do bán Heroine cho Lò Văn T1 mà có); 01 xe mô tô BKS: 25B1 - 773.63; 01 ví giả da màu đen.

Bản cáo trạng số 32/CT-VKSTĐ, ngày 08/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường truy tố bị cáo Lò Văn L về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" qui định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát huyện Tam Đường giữ nguyên quan điểm truy tố của mình đồng thời phân tích, đánh giá toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Lò Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn L từ 18 tháng đến 21 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.

Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo vì bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được qui định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì công văn do Công an huyện Tam Đường phát hành niêm phong lại bằng cách dùng một tờ giấy niêm phong màu trắng dán kín phong bì từ mặt sau ra mặt trước, trên các mép dán của mảnh giấy niêm phong màu trắng có các chữ ký và ghi rõ họ tên của: Lò Văn Quốc, Phạm Tiến Dũng, Phan Văn Huỳnh, Đặng Văn Hữu, Lò Văn Hằng, Bùi Thị Hồng Khánh, điểm chỉ ngón trỏ phải Lò Văn H và chữ ký của người bị bắt Lò Văn L. Mặt trước phong bì ghi “Phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu Thăng L và các mảnh giấy trắng gói vật chứng ban đầu thu giữ của Lò Văn L, sinh năm: 2003, HKTT: Bản NĐ, xã BL, huyện T, tỉnh Lai Châu”. Trên mép dán của tờ giấy niêm phong ở bốn góc mặt trước phong bì được đóng bốn hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Tam Đường.

Tịch thu sung quĩ nhà nước: Số tiền 88.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có và 1.000 đồng là tiền bị cáo gói Heroine.

Trả lại cho bị cáo: 01 ví giả da màu đen đã qua sử dụng và 368.000 đồng.

Trả lại cho gia đình bị cáo: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda màu xanh ngọc, BKS: 25B1 – 773.63, số khung: RLHJA391XLY272754, số máy: JA39E-1611125, xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Lò Văn L đã phân tích đánh giá các tình tiết của vụ án, hành vi, động cơ mục đích phạmtội của bị cáo, hành vi của bị cáo được phát hiện kịp thời, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhất thời phạm tội. Đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự; cho bị cáo được hưởng mức án theo qui định áp dụng hình phạt đối với người phạm tội chưa đủ 18 tuổi; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền; đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo; đề nghị áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS; trả lại cho bị cáo: 01 ví giả da màu đen đã qua sử dụng và 368.000 đồng; trả lại cho gia đình bị cáo: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda màu xanh ngọc, BKS: 25B1 – 773.63, số khung: RLHJA391XLY272754, số máy: JA39E-1611125.

Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi phạm tội của bị cáo; tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra bị cáo Lò Văn L đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo đều phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ căn cứ khẳng định:

Vào khoảng 21 giờ ngày 06 tháng 1 năm 2022 tại khu vực đường bê tông thuộc bản NĐ, xã BL, huyện T. Lò Văn L đã có hành vi bán trái phép 01 gói Heroine cho Lò Văn T1 sinh năm: 2003 trú tại bản NP, xã BL, huyện T với giá 100.000 đồng. Còn lại 06 gói Heroine có tổng khối lượng 0,17 gam L tàng trữ nhằm mục đích bán kiếm lời nH chưa kịp thực hiện thì bị Công an xã BL, huyện T phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn. Ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nH vì nghiện chất ma túy nên đã thúc đẩy bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình gây ra. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Mua bán trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Nội dung bản cáo trạng truy tố, căn cứ đề nghị của Viện kiểm sát huyện Tam Đường đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Bị cáo có đủ điều kiện nhận biết ma túy là độc dược gây nghiện, gây tổn hại cho sức khỏe của con người và là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Nhà nước ta đang đấu tranh quyết liệt để loại trừ ma túy ra khỏi đời sống xã hội và xử phạt nghiêm khắc đối với những người nào có các hành vi liên quan đến ma túy, bị cáo có sử dụng chất ma túy. Do nợ tiền của Lò Văn S khi S đưa ma túy cho L nhờ bán giúp và sẽ trừ nợ dần, vì hám lời nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy; người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án theo qui định áp dụng hình phạt đối với người phạm tội chưa đủ 18 tuổi. Khi thực hiện tội phạm bị cáo Lò Văn L là người dưới 18 tuổi, nên Hội đồng xét xử cần áp dụng các quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội đối với bị cáo theo quy định tại Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Về các tình tiết giảm nhẹ bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Theo lời khai của bị cáo Lò Văn L vào ngày 06/1/2022 Lù Văn S có đưa cho L 07 gói Heroine để bán kiếm lời. Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã triệu tập Lù Văn S. Tuy nhiên Lù Văn S không có mặt tại nơi cư trú, đi đâu gia đình và chính quyền địa phương không biết, vì vậy không có căn cứ để điều tra, làm rõ.

Đối với Lò Văn T1, vào ngày 06/1/2022 T1 mua được của L 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng (T1 đã sử dụng hết) đây là hành vi vi phạm hành chính nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Lò Văn T1 theo quy định.

Đối với Lò Văn H sinh năm: 1980 trú tại bản NĐ, xã BL, huyện T là bố đẻ của bị cáo L. Việc Lò Văn L tự ý điều khiển xe mô tô BKS: 25B1 - 773.63 của gia đình làm phương tiện phạm tội. H không biết vì vậy Lò Văn H không đồng phạm với Lò Văn L.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại các Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 34, Điều 36, Điều 37, Điều 41, Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vật chứng:

Một phong bì công văn do Công an huyện Tam Đường phát hhành niêm phong lại bằng cách dùng một tờ giấy niêm phong màu trắng dán kín phong bì từ mặt sau ra mặt trước, trên các mép dán của mảnh giấy niêm phong màu trắng có các chữ ký và ghi rõ họ tên của: Lò Văn Quốc, Phạm Tiến Dũng, Phan Văn Huỳnh, Đặng Văn Hữu, Lò Văn Hằng, Bùi Thị Hồng Khánh, điểm chỉ ngón trỏ phải Lò Văn H và chữ ký của người bị bắt Lò Văn L. Mặt trước phong bì ghi “Phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu Thăng L và các mảnh giấy trắng gói vật chứng ban đầu thu giữ của Lò Văn L, sinh năm: 2003, HKTT: Bản NĐ, xã BL, huyện T, tỉnh Lai Châu”. Trên mép dán của tờ giấy niêm phong ở bốn góc mặt trước phong bì được đóng bốn hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Tam Đường là công cụ bị cáo dùng để phạm tội và là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Số tiền 88.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có và 1.000 đồng là tiền bị cáo gói Heroine cần tịch thu sung quĩ nhà nước.

01 ví giả da màu đen đã qua sử dụng và 368.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

01 xe mô tô nhãn hiệu Honda màu xanh ngọc, BKS: 25B1 – 773.63, số khung: RLHJA391XLY272754, số máy: JA39E-1611125, xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong là xe của gia đình bị cáo, khi bị cáo sử dụng xe đi bán ma túy gia đình bị cáo không biết nên trả lại cho gia đình bị cáo. [4] Án phí:

Áp dụng điều 135; 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn xét nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn L.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251; Điều 91; Điều 101; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn L 18 (mười tám) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn từ được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

3. Về vật chứng của vụ án:

Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì công văn do Công an huyện Tam Đường phát hành niêm phong lại bằng cách dùng một tờ giấy niêm phong màu trắng dán kín phong bì từ mặt sau ra mặt trước, trên các mép dán của mảnh giấy niêm phong màu trắng có các chữ ký và ghi rõ họ tên của: Lò Văn Quốc, Phạm Tiến Dũng, Phan Văn Huỳnh, Đặng Văn Hữu, Lò Văn Hằng, Bùi Thị Hồng Khánh, điểm chỉ ngón trỏ phải Lò Văn H và chữ ký của người bị bắt Lò Văn L. Mặt trước phong bì ghi “Phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu Thăng L và các mảnh giấy trắng gói vật chứng ban đầu thu giữ của Lò Văn L, sinh năm: 2003, HKTT: Bản NĐ, xã BL, huyện T, tỉnh Lai Châu”. Trên mép dán của tờ giấy niêm phong ở bốn góc mặt trước phong bì được đóng bốn hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Tam Đường.

Tịch thu sung quĩ nhà nước: Số tiền 88.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có và 1.000 đồng là tiền bị cáo gói Heroine.

Trả lại cho bị cáo: 01 ví giả da màu đen đã qua sử dụng và 368.000 đồng.

Trả lại cho gia đình bị cáo: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda màu xanh ngọc, BKS: 25B1 – 773.63, số khung: RLHJA391XLY272754, số máy: JA39E-1611125, xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong (đại diện gia đình là ông Lò Văn H bố của bị cáo).

Số vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.

4. Về án phí:

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

5, Quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án có quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật.

Cỡ chữ