vanban.org

Bản án 03/2022/HS-PT — Hình sự

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 11/01/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của Lê Đức V và đề nghị hủy Bản án sơ thẩm của đại diện hợp pháp người bị hại.

Xử phạt: Lê Đức V 09 (chín) tháng tù về tội:“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hộ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Đức V - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của Lê Đức V và đề nghị hủy Bản án sơ thẩm của đại diện hợp pháp người bị hại.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2022/HS-PT
Ngày 11-01- 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Thúy Năng

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Cảnh

Bà Trần Thị Bé

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Na - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đãi Em - Kiểm sát viên.

Ngày 11/01/2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 103/2021/TLHS-PT ngày 03 tháng 11 năm 2021 đối với Lê Đức V do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2021/HS-ST ngày 27/9/2021 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo có kháng cáo: Lê Đức V, sinh ngày: 15/12/1977 tại Đà Nẵng. Nơi thường trú: Tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đức T (đã chết) và bà Nguyễn Thị D (đã chết); có vợ Trương Thị K và 02 con, con lớn nhất sinh năm: 2007 và con nhỏ nhất sinh năm: 2014; tiền án, tiền sự : Chưa; nhân thân: Năm 2015 bị Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng xử phạt hành chính phạt tiền 2.240.000đồng về hành vi đánh bạc (đã nộp phạt ngày 25/9/2019).

Bi cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Đào Thị P , sinh năm: 1986 (đã chết). Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lương Hoài C , sinh năm: 1987; Địa chỉ: Số A, phường T, quân H, thành phố Đà Nẵng (là chồng của Đào Thị P). Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 13.5.2020, Lê Đức V điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Fortuner, biển số 43A-381.78 chạy trên đường Lý Thường Kiệt, theo hướng từ đường Bạch Đằng về đường Lê Lợi với tốc độ khoảng 35Km/h. Khi vào ngã tư Lý Thường Kiệt - Phan Bội Châu thì V phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Sirius, biển số 74F1 - 015.25 do chị Đào Thị P điều khiển, chạy trên đường Phan Bội Châu theo hướng từ đường Lý Tự Trọng về đường Trần Quý Cáp. V có đạp phanh nhưng do khoảng cách gần và xe chị Phúc chạy nhanh nên đã xảy ra va chạm. Chị P có chở theo cháu Lương Phương A , khi xảy ra tai nạn V có chở 01 khách nữ người nước ngoài, sau khi tai nạn người này xuống xe bỏ đi.

Hậu quả: Chị P tử vong tại chỗ, cháu Phương A bị thương nhẹ, hai xe bị hư hỏng.

Theo Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 61/TgT ngày 01.6.2020 của Trung tâm pháp y, Sở Y tế thành phố Đà Nẵng, kết luận: Chị Đào Thị P bị Chấn thương sọ não: Vỡ phức tạp xương hộp sọ vùng chẩm trái, có máu và dịch não tủy chảy ra qua vết vỡ dẫn đến ngừng hô hấp, ngừng tuần hoàn, tử vong tại hiện trường.

Theo Công văn số 247/ĐK-ĐN ngày 04.6.2020 của Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới, Sở giao thông vận tải Đà Nẵng, kết luận:

- Hệ thống phanh: Còn nguyên vẹn, đầy đủ, hoạt động bình thường, hiệu quả của phanh chính, độ lệch lực phanh bánh xe trên các trục bánh xe và hiệu quả phanh đỗ khi kiểm tra trên băng thử đạt yêu cầu theo quy định.

- Hệ thống lái: Hệ thống lái và các hệ thống liên quan còn nguyên vẹn, đầy đủ lắp đặt chắc chắn, hiện tại đảm bảo yêu cầu về kỹ thuật, hoạt động bình thường.

Kết luận giám định số 27/GĐ-CH ngày 15.6.2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Đà Nẵng, kết luận: Dấu vết va chạm giữa các phương tiện, chiều hướng dấu vết, cơ chế hình thành dấu vết; vị trí va chạm đầu tiên trên các phương tiện đều phù hợp với các dấu vết để lại trên hai xe.

Theo Kết luận giám định số 593/C09-Đ1 ngày 05.8.2020 của Phân viện KHHS tại thành phố Đà Nẵng, kết luận:

- Vận tốc của xe ô tô biển số 43A-381.78 trước thời điểm xảy ra va chạm là từ 28km/h đến 37km/h.

- Vận tốc của xe mô tô biển số 74F1-015.25 trước thời điểm xảy ra va chạm là từ 25km/h đến 34km/h.

- Trước thời điểm xảy ra va chạm xe ô tô biển số 43A-381.78 không chuyển hướng.

- Trước thời điểm xảy ra va chạm xe mô tô biển số 74F1-015.25 có chuyển hướng về phía bên trái theo chiều di chuyển.

- Không đủ cơ sở xác định trước thời điểm vào giao lộ và trước thời điểm xảy ra va chạm, hai xe có giảm tốc độ hay không.

Theo Kết luận giám định số 6774/C09-P6 ngày 11.11.2020 của Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an, kết luận: Không xác định được phương tiện ô tô hay xe máy, phương tiện nào đi vào ngã tư trước, do mẫu cần giám định có chất lượng kém.

Theo Kết luận giám định số 6507/C09-P6 ngày 04.12.2020 của Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an, kết luận:

- Không đủ cơ sở xác định trước thời điểm khi vào giao lộ và trước thời điểm xảy ra va chạm với phương tiện do A2 điều khiển (xe mô tô), phương tiện do A1 điều khiển (xe ô tô) có giảm tốc độ không.

- Không đủ cơ sở xác định trước thời điểm khi vào giao lộ và trước thời điểm xảy ra va chạm với phương tiện do A1 điều khiển (xe ô tô), phương tiện do A2 điều khiển (xe mô tô) có tăng hay giảm tốc độ.

- Lê Đức V có Giấy phép lái xe hạng C theo quy định; không sử dụng rượu, bia hay chất kích thích gì khác. Quá trình điều tra, bị cáo tự nguyện khai nhận toàn bộ diễn biến vụ tai nạn, lời khai của bị cáo phù hợp với dấu vết tại hiện trường, các biên bản khám nghiệm, kết luận giám định và các chứng khác có trong hồ sơ vụ án.

- Riêng đối với cháu Lương Phương A, đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại là anh Lương Hoài C tham gia tố tụng, cho rằng cháu chỉ bị thương nhẹ phần mềm, đề nghị không giám định thương tích.

Với nội dung trên, Bản án sơ thẩm số 94/2021/HS-ST ngày 27/9/2021 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

Tuyên bố Lê Đức V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt Lê Đức V 09 (chín) tháng tù Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01 tháng 10 năm 2021 Lê Đức V có đơn kháng cáo toàn bộ bản án với nội dung: Mức hình phạt mà Tòa cấp sơ thẩm tuyên là quá nặng, quá nghiêm khắc đối với hành vi của bị cáo, bị cáo mong cấp phúc thẩm xem xét giảm án và cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện hợp pháp cho bị hại - ông Lương Hoài C trình bày: Ông có tham gia khám nghiệm hiện trường, được xem Clip ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông, đã nhận được bản Kết luận điều tra, ông chỉ không tham gia khám nghiệm phương tiện và do không nhận được giấy triệu tập của Tòa án để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm. Về trách nhiệm bồi thường dân sự và mức hình phạt đối với bị cáo mà cấp sơ thẩm đã tuyên, ông không có ý kiến gì. Nhưng ông đề nghị HĐXX hủy án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại, đảm bảo cho đại diện người bị hại được tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, đồng thời làm rõ nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn có phải do lỗi hỗn hợp hay không.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của Lê Đức V theo đúng thủ tục tố tụng và trong thời hạn kháng cáo nên đảm bảo hợp lệ.

Đối với việc cấp tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm đối với đại diện của người bị hại - là ông Lương Hoài C là có vi phạm thủ tục tố tụng, ông Cảnh đã nhận được bản kết luận điều tra, đã đọc biết lỗi tai nạn giao thông là do cả hai bên, ông chỉ không tham gia khám nghiệm phương tiện, không tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm. Như vậy, ông Cảnh đã biết lỗi tai nạn là lỗi hỗn hợp nhưng trong quá trình điều tra, truy tố, ông cũng không có khiếu nại gì. Tại phiên tòa phúc thẩm, về mức hình phạt và trách nhiệm bồi thường dân sự, ông cũng không có ý kiến gì, như vậy việc ông đề nghị tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm cũng không làm thay đổi bản chất vụ án. Mặt khác về mức hình phạt và trách nhiệm dân sự đã phù hợp quy định pháp luật, nên đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 356 BLTTHS, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo cũng như đề nghị của ông Cảnh, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Lê Đức V trình bày: Bị cáo chỉ kháng cáo về mức hình phạt và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo, để bị cáo có điều kiện đi làm và tiếp tục bồi thường số tiền 150.000.000 đồng (đã bồi thường được 300.000.000 đồng) cho anh Lương Hoài C như đã thỏa thuận trước đây.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ sơ đồ hiện trường, các biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 13/5/2020 tại ngã tư đường Lý Thường Kiệt - Phan Bội Châu, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng , Lê Đức V điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Fortuner, biển số 43A-381.78 chạy trên đường Lý Thường Kiệt đã xảy ra va chạm giao thông với xe mô tô nhãn hiệu Sirius, biển số 74F1- 015.25 do chịĐào Thị P điều khiển. Hậu quả chị Đào Thị P tử vong tại chỗ.

Nguyên nhân vụ tai nạn được xác định là do Lê Đức V và chị Đào Thị P khi điều khiển xe vào khu vực ngã tư nhưng không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT- BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dụng tham gia giao thông đường bộ và vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ, dẫn đến hai xe va chạm với nhau.

Vì vậy, bản án hình sự sơ thẩm số 94/2021/HS-ST ngày 27/9/2021 của Tòa án nhân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo về tội: “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

Mặc dù, tại phiên tòa đại diện hợp pháp người bị hại đề nghị HĐXX hủy án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại, đảm bảo cho đại diện người bị hại được tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, đồng thời làm rõ nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn có phải do lỗi hỗn hợp hay không. Vì đại diện hợp pháp người bị hại không được tham gia khám nghiệm phương tiện, không được tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm ngày 27/9/2021 tại Tòa án nhân dân quận H do không nhận được giấy triệu tập của Tòa án nhân dân quận H.

HĐXX xét thấy, qua kết quả xác minh thể hiện: Tòa án nhân dân quận H, thành phố Đà Nẵng đã gửi giấy triệu tập cho ông Lương Hoài C là đại diện hợp pháp cho người bị hại, nhưng thực tế ông Lương Hoài C không nhận được, Tòa án cấp sơ thẩm đã không kiểm tra việc này mà vẫn đưa vụ án ra xét xử. Ngoài ra, khi khám nghiệm phương tiện đại diện hợp pháp không được tham gia. HĐXX xét thấy cấp sơ thẩm có vi phạm về tố tụng, nhưng ở cấp phúc thẩm, HĐXX đã đưa đại diện hợp pháp người bị hại tham gia tố tụng và xem xét yêu cầu của đại diện hợp pháp người bị hại, như vậy vẫn đảm bảo về quyền lợi của đại diện hợp pháp người bị hại. Đại diện hợp pháp người bị hại cũng đã nhận được kết luận điều tra, đã biết nguyên nhân xảy ra tai nạn là do lỗi hỗn hợp, nhưng cũng không khiếu nại gì. Mặt khác, như đã nhận định trên, nguyên nhân dẫn đến tai nạn đều do lỗi hỗn hợp của bị cáo và bị hại, trong đó lỗi chính thuộc về bị cáo. Bản án sơ thẩm căn cứ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án 09 (chín) tháng tù, đồng thời ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện hợp pháp của người bị hại, về việc bị cáo bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 450.000.000 đồng (bao gồm tất cả các khoản) là phù hợp, vẫn đảm bảo quyền lợi cho gia đình người bị hại. Như vậy, mặc dù có vi phạm về tố tụng như đã nêu trên, nhưng về mặt bản chất vụ án không có gì thay đổi. Bản án sơ thẩm đã xét xử về tội danh, mức hình phạt, xem xét về trách nhiệm dân sự như trên là phù hợp quy định pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho gia đình người bị hại, do đó không cần thiết phải hủy bản án, xét xử sơ thẩm lại đảm bảo cho đại diện hợp pháp người bị hại được tham gia phiên tòa sơ thẩm và xem xét xác định về nguyên nhân dẫn đến vụ án có phải do lỗi hỗn hợp hay không theo đề nghị của đại diện hợp pháp người bị hại. HĐXX không chấp nhận đề nghị này của đại diện hợp pháp người bị hại.

Xét nội dung đơn kháng cáo của Lê Đức V về việc xin được hưởng án treo, HĐXX thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác. Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn là do bị cáo V và chị P điều khiển xe vào khu vực ngã tư nhưng không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn. Bản án sơ thẩm cũng đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đồng thời áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo, xử phạt bị cáo với mức án 09 (chín) tháng tù là phù hợp, nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của BLTTHS; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo không được cấp phúc chấp nhận, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của Lê Đức V và đề nghị hủy Bản án sơ thẩm của đại diện hợp pháp người bị hại. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 94/2021/HS-ST ngày 27/9/2021 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố Đà Nẵng.

2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Lê Đức V 09 (chín) tháng tù về tội:“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Lê Đức V phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ