vanban.org

Bản án 03/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 12/01/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[ ] Căn cứ điểm a khoản Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố t ng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mùa A C – Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm 01/2021/HS-ST ngày 8 tháng năm của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mùa A C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [ ] Căn cứ điểm a khoản Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố t ng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 356 Bộ luật tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2022/HS-PT
Ngày: 12-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Tuyết.

Các Thẩm phán: Ông Trần Duy Tuấn và ông Vũ Văn Tú

- Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Ngọc Điệp - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Huy - Kiểm sát viên.

Ngày tháng năm

, tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai v án hình sự th lý số 338/2021/TLPT-HS ngày 01/12/2021. Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2021/HS-ST ngày 8 tháng năm

của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk.

- B cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Mùa A C, sinh năm 98 , tại tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Thôn x, xã y, huyện z, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Mùa A D (Đã chết) và bà: Sồng Thị B; bị cáo có vợ là Sùng Thị D, sinh năm 1981, có 02 con, con lớn nhất sinh năm 0, con nhỏ nhất sinh năm 9; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 4/5/

cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho b cáo Mùa A C: Ông Nguyễn Hữu H – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đắk Lắk - có mặt.

Người phiên dịch: Ông Hàng A P – Cán bộ Công an tỉnh Đắk Lắk - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 7 giờ, ngày 4/ 5/

, Mùa A C là người sử d ng trái phép chất ma túy đi bộ đến ngã 4, thôn 4, xã Cư Kbang, huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk để tìm mua ma túy. Mùa A C gặp một người đàn ông tên S (Không rõ nhân thân, lai lịch), hỏi mua ma túy thì S đồng ý bán cho Mùa A C . đồng ma túy, loại Heroine. Sau khi mua được Heroine, Mùa A Cha đi về nhà, về đến nhà, thì có Lù A V, sinh năm 993 trú tại: Thôn P, xã Q, huyện Krông N, tỉnh Đắk Nông (V là cháu của Mùa A C) đang tại nhà mình, V hỏi mua ma túy của Mùa A C để sử d ng. Mùa A C liền bán cho Lù A V

. đồng ma túy. Sau khi mua được Heroine, Lù A V đi ra ngoài vườn nhà Mùa A Cha sử d ng hết ma túy vừa mua được.

Đối với số ma túy loại Heroine còn lại, Mùa A C cất giấu vào trong túi quần của mình m c đích để sử d ng. Đến khoảng 9 giờ 3 phút cùng ngày, Nông Văn D, (sinh năm 979) và Lý Văn P, (sinh năm 986, đều trú tại xã E, huyện Ea H, tỉnh Đắk Lắk) đến nhà Mùa A C để hỏi mua ma túy về để sử d ng, khi P và D chưa mua được ma túy thì Mùa A C bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp phát hiện bắt quả tang thu giữ gói ny lon trong suốt, được hàn kín, bên trong có chứa chất rắn màu trắng, theo Mùa A C khai đó là ma túy, loại Heroine.

Tại Bản kết luận giám định số: 584 ngày / 6/

của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: ,6 53gam, loại Heroine. Ngày 5/ 5/ Trung tâm y tế huyện Ea Súp xét nghiệm Mùa A C, Lù A V, Lý Văn P, Nông Văn D đều dương tính với ma túy.

* Về vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp đã thu giữ các đồ vật, tài sản như sau:

gói ny lon trong suốt, được hàn kín, bên trong có chứa chất rắn màu trắng; thùng giấy các tông, kích thước ( 3x34x3 cm); tờ tiền Việt Nam, loại polime, mệnh giá . đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2021/HS-ST ngày 18 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk, đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Mùa A C phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp d ng khoản Điều 5 ; điểm s khoản , khoản Điều 5 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Mùa A C (Hai) năm 6 (Sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp d ng điểm c khoản Điều 49; điểm s khoản , khoản Điều 5 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Mùa A C (Một) năm 6 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp d ng điểm a khoản Điều 55 Bộ luật hình sự.

Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Mùa A C phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 4 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 24/5/2021.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 18/10/2021, bị cáo Mùa A C có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm.

Tại phiên toà đại điện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Mùa A C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản Điều 5 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản Điều 49 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xét mức hình phạt năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và mức hình phạt năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” mà cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo là thỏa đáng. Cấp sơ thẩm đã áp d ng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà bị cáo được hư ng, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố t ng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mùa A C, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Người bào chữa cho bị cáo là ông Nguyễn Hữu H trình bày tranh luận: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, không được đi học nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Mức án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là nghiêm khắc. Hoàn cảnh gia đình bị cáo hiện nay hết sức khó khăn vợ và con trai lớn của bị cáo phạm các tội về ma tuý, hiện bị cáo còn một con nhỏ không ai chăm sóc. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng b khoản Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố t ng hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm và không trình bày gì thêm.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì chỉ đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[ ] Lời khai của bị cáo Mùa A C tại phiên toà phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ v án. Như vậy, đã có đủ cơ s để kết luận: Ngày 4/5/

, tại thôn 4 xã Cư Kbang, huyện Ea Súp, Mùa A C đã có hành vi mua

. đồng ma túy của người tên S không rõ nhân thân lai lịch sau đó bán lại cho Lù A V một nửa số ma túy mua được với giá

. đ. Số ma túy còn lại Mùa A C cất giấu trong người thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp bắt quả tang với khối lượng ma túy là ,6 53 gam loại Heroine sau giám định, số ma túy này m c đích bị cáo để sử d ng, không có m c đích mua bán. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Mùa A C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản Điều 5 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản Điều 49 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[ ] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Xét mức hình phạt năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và mức hình phạt năm 6 tháng tù mà bản án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp d ng đúng và đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo mà cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

Các quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên bị cáo Mùa A C là người đồng bào dân tộc thiểu số sống các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên căn cứ vào điểm đ khoản Điều , Điều 4 Nghị quyết số: 3 6/ 6/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 để miễn án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[ ] Căn cứ điểm a khoản Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố t ng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mùa A C – Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm 01/2021/HS-ST ngày 8 tháng năm

của Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk.

[ ] Về hình phạt:

Áp d ng khoản Điều 5 ; điểm s khoản , khoản Điều 5 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Mùa A C 02 (Hai) năm 6 (Sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp d ng điểm c khoản Điều 49; điểm s khoản , khoản Điều 5 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Mùa A C 01 (Một) năm 6 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp d ng điểm a khoản Điều 55 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Mùa A C phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 24/5/2021.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Mùa A C được miễn tiền án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ