- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Hồng V và ông Lê Hoàng Ngọc X"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng V về việc tranh chấp ly hôn với bị đơn ông Lê Hoàng Ngọc X như sau:
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2022/HNGĐ-ST Ngày: 13-01-2022 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Cần;
2. Ông Huỳnh Sơn Tây.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã T tham gia phiên tòa: Bà Bồ Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã T tiến hành phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 93/2021/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2021 về việc: “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/12/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2021/QĐST-HNGĐ ngày 27/12/2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1985; thường trú: Tổ 2, khu phố 3, phường H, thị xã T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Lê Hoàng Ngọc X, sinh năm 1985; thường trú: Tổ 2, khu phố 3, phường H, thị xã T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng V và ông Lê Hoàng Ngọc X có thời gian tìm hiểu nhau thì tiến tới hôn nhân, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã (nay là phường) H, thị xã T, tỉnh Bình Dương và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 86/2004, quyển số 04, ngày 29/11/2004. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian gần đây thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, sau khi bà V sinh con thì ông X không đi làm mà chỉ ở nhà, không quan tâm đến gia đình, vợ con; mâu thuẫn về kinh tế gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vả. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2019 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó bà Nguyễn Thị Hồng V yêu cầu được ly hôn với ông Lê Hoàng Ngọc X.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Lê Hồng Xuân M, sinh ngày 05/8/2005; Lê Hoàng A, sinh ngày 10/7/2010 và Lê Xuân Bảo Y, sinh ngày 06/11/2017. Khi ly hôn, bà V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con là Lê Hoàng A và Lê Xuân Bảo Y. Bà V đồng ý giao con chung tên Lê Hồng Xuân M cho ông X trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà V không cấp dưỡng nuôi con chung tên Lê Hồng Xuân M và không yêu cầu ông X cấp dưỡng nuôi 02 con chung tên Lê Hoàng A, Lê Xuân Bảo Y.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Hồng V tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vì lý do bận công việc, không có thời gian tham gia tố tụng nên bà Nguyễn Thị Hồng V có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
Bị đơn ông Lê Hoàng Ngọc X đã được Tòa án nhân dân thị xã T triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng.
Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã T về mâu thuẫn vợ chồng của bà V và ông X thì chính quyền địa phương không rõ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã T tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:
- Về thủ tu ̣c tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã T thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng các đương sự đã thực hiện đúng quy định. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu và kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình mà bị đơn cư trú tại thị xã T và nguyên đơn đề nghị Tòa án nhân dân thị xã T giải quyết. Căn cứ vào Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã T.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng V có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn ông Lê Hoàng Ngọc X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 227 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng V và ông Lê Hoàng Ngọc X có đăng ký kết hôn tại UBND xã (nay là phường) H, thị xã T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 86/2004, quyển số 04, ngày 29/11/2004, là hôn nhân hợp pháp.
Bà Nguyễn Thị Hồng V xác định nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, sau khi bà V sinh con thì ông X không đi làm mà chỉ ở nhà, không quan tâm đến gia đình, vợ con; mâu thuẫn về kinh tế gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vả, vợ chồng đã sống ly thân và hiện tại không đưa ra được biện pháp nào để hàn gắn tình cảm. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 03 con chung tên Lê Hồng Xuân M, sinh ngày 05/8/2005; Lê Hoàng A, sinh ngày 10/7/2010 và Lê Xuân Bảo Y, sinh ngày 06/11/2017.
Hiện tại, cháu A và cháu Y đang sống cùng bà V, điều kiện chăm sóc, giáo dục được đảm bảo. Tại bản tự khai, cháu A và cháu Y đều có nguyện vọng được sống với mẹ là bà V. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận giao 02 con chung tên Lê Hoàng A, Lê Xuân Bảo Y cho bà V được trực tiếp nuôi dưỡng.
Đối với con chung tên Lê Hồng Xuân M hiện tại đang sống cùng với cha là ông X và tại bản tự khai, cháu M có nguyện vọng được sống với cha. Bà V đồng ý giao con chung tên Lê Hồng Xuân M cho ông X được trực tiếp nuôi dưỡng. Xét đây là ý chí tự nguyện của bà V nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung tên Lê Hồng Xuân M cho ông X được trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà V không cấp dưỡng nuôi con chung tên Lê Hồng Xuân M và không yêu cầu ông X cấp dưỡng nuôi 02 con chung tên Lê Hoàng A, Lê Xuân Bảo Y. Xét đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 269, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hồng V về việc tranh chấp ly hôn với bị đơn ông Lê Hoàng Ngọc X như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng V được ly hôn với ông Lê Hoàng Ngọc X.
- Về con chung: Giao 02 con chung tên Lê Hoàng A, sinh ngày 10/7/2010 và Lê Xuân Bảo Y, sinh ngày 06/11/2017 cho bà Nguyễn Thị Hồng V được trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung tên Lê Hồng Xuân M, sinh ngày 05/8/2005 cho ông Lê Hoàng Ngọc X được trực tiếp nuôi dưỡng.
Bà Nguyễn Thị Hồng V và ông Lê Hoàng Ngọc X đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Hồng V phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0052372 ngày 23/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã T, tỉnh Bình Dương.
Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã T; - Chi cục THADS thị xã T; - Các đương sự; - Lưu VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tấn Tâm |