vanban.org

Bản án 03/2022/HNGD-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghi quyêt 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thương vụ Quốc hôi quy đinh về mức thu, miên, giảm, thu, nôp, quản lý và sử dụng án phi lệ phi Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thi B về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối vơi ông Trần Tấn Tr. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Hoàng Thi B và ông Trần Tấn Tr ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị B"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghi quyêt 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thương vụ Quốc hôi quy đinh về mức thu, miên, giảm, thu, nôp, quản lý và sử dụng án phi lệ phi Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 03/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 10-01-2022
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH - TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thi Đào

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Thanh Tâm

2. Ông Nguyên Thê Nam.

Thư ký phiên tòa: Bà Huynh Lê Ngoc Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Cao Thi Yên - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 218/2021/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2021, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyêt đinh đưa vụ án ra xét xử số: 58/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2021; Quyêt đinh hoãn phiên tòa số: 37/2021/QĐST-HNGĐ ngày 23/12/2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thi B, sinh năm 1984.

Nơi đăng ký hô khẩu thương tru: Số 52 đương số 9, khu phố T, phương L, thành phố K, tỉnh Đồng Nai.

- Bi đơn: Ông Trần Tấn Tr, sinh năm 1976.

Nơi đăng ký hô khẩu thương tru: Số 52 đương số 9, khu phố T, phương L, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

(Ông Tr có mặt, bà B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22-4-2021, các lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử, nguyên đơn bà Hoàng Thị B trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thi B và ông Trần Tấn Tr tự nguyện chung sống vơi nhau tư năm 2004, đên năm 2014 có đăng ký kêt hôn tại Ủy ban nhân dân xã Xuân Thạnh, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kêt hôn ngày 17/5/2014 (vào sổ cấp giấy số 52/2014).

Quá trinh chung sống, đơi sống chung vợ chồng không hạnh phuc do tinh cách không phu hợp, bất đồng quan điểm dân đên tinh cảm phai nhạt. Ông Tr thương xuyên nhậu nhet, rượu che khi về nhà kiêm cơ chửi bơi, đánh đập vợ con, thương có những lơi le hăm doa làm cho bà B luôn trong tinh trạng lo sợ. Tinh trạng này kéo dài và ngày càng trầm trong. Tư tháng 5/2021, do vợ chồng xảy ra mâu thuân, không thể tiêp tục chung sống nên bà B đã đưa các con là Trần Hoàng Hoài Th và Trần Hoàng Minh D2 đên thuê nhà tro ở tại xã T, huyện N, tỉnh Đồng Nai sinh sống tư đó cho đên nay. Con chung là Trần Hoàng Minh D đã lập gia đinh và ở riêng. Tư khi bà B và các con bo đi, ông Tr không qua lại thăm nom, chăm sóc hay quan tâm đên vợ con. Nay, bà B nhận thấy tinh cảm vợ chồng không còn, đơi sống chung không thể kéo dài, mục đich hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn vơi ông Trần Tấn Tr.

Về con: Theo bà B, vợ chồng có 03 (ba) ngươi con là Trần Hoàng Hoài Th, sinh ngày 10/9/2000, Trần Hoàng Minh D, sinh ngày 17/5/2002, Trần Hoàng Minh D2, sinh ngày 03/7/2014. Hiện, cháu Trần Hoàng Minh D2 đang do bà B trực tiêp nuôi dương. Khi ly hôn, bà B yêu cầu được tiêp tục nuôi dương cháu D2. Tạm thơi bà B không yêu cầu ông Tr cấp dương, do bản thân bà đủ điều kiện kinh tê để nuôi dương con trưởng thành về moi mặt.

Riêng con chung là Trần Hoàng Hoài Th và Trần Hoàng Minh D đã thành niên và có khả năng lao đông nên không yêu cầu Tòa án giải quyêt.

Về tài sản chung: Bà B không yêu cầu Tòa án giải quyêt;

Về nợ chung: Theo bà B, vợ chồng không nợ bất cứ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào nên không yêu cầu Tòa án giải quyêt.

Quá trình chuẩn bị xét xử, ông Trân Tân Tr trình bày:

Ông Trần Tấn Tr thưa nhận quá trinh xác lập quan hệ hôn nhân giữa ông và bà B đung như bà B đã trinh bày, vợ chồng kêt hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bi ai cương ép, lưa dối, có đăng ký kêt hôn tại Ủy ban nhân dân xã Xuân Thạnh, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kêt hôn theo luật đinh. Ông Tr cho răng vợ chồng không có mâu thuân gi lơn nhưng thưa nhận việc bản thân thương xuyên nhậu nhet, môi lần đi nhậu về bà B hay nhăc nhở nên vợ chồng thương cãi vã nhau, thỉnh thoảng có đánh đập nhau. Ông Tr cung thưa nhận vợ chồng không còn hạnh phuc, không còn quan tâm chăm sóc nhau nhưng không đồng ý ly hôn vi bản thân ông còn yêu thương vợ, không muốn các con phải sống thiêu văng tinh cha hoặc me.

Về con: Theo ông Tr, vợ chồng chi có 03 (ba) ngươi con là Trần Hoàng Hoài Th, sinh ngày 10/9/2000, Trần Hoàng Minh D, sinh ngày 17/5/2002, Trần Hoàng Minh D2, sinh ngày 03/7/2014. Trương hợp phải ly hôn, ông Tr yêu cầu được trực tiêp nuôi dương cháu D2, không yêu cầu bà B cấp dương nuôi con. Riêng con chung là Trần Hoàng Hoài Th và Trần Hoàng Minh D đã thành niên và có khả năng lao đông nên không yêu cầu Tòa án giải quyêt.

Tại phiên tòa hôm nay, ông Tr trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Tr thưa nhận mâu thuân vợ chồng đã thực sự trầm trong, không thể hàn găn nên ông đồng ý ly hôn vơi bà Hoàng Thi B.

Về con: Ông đồng ý giao con là Trần Hoàng Minh D2 cho bà B trực tiêp nuôi dương, tạm thơi ông không cấp dương nuôi con.

Về tài sản: Ông Tr không yêu cầu Tòa án giải quyêt.

Về nợ chung: Theo ông Tr, vợ chồng không nợ bất cứ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào nên không yêu cầu Tòa án giải quyêt.

Để giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh về thực tế mâu thuẫn của vợ chồng, và điều kiện nuôi con kết quả xác minh như sau:

Tại Biên bản xác minh ngày 25-10-2021, Công an phương Xuân Lập cung cấp nôi dung: Quá trinh sinh sống tại đia phương giữa ông Trần Tấn Tr và bà Hoàng Thi B có xảy ra mâu thuân, nguyên nhân vi sao thi đia phương không năm. Ông Tr làm nghề thợ xây, công việc ổn đinh và thương xuyên nhưng thu nhập cụ thể bao nhiêu thi đia phương không năm.

Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về thủ tục: Thẩm phán và Hôi đồng xét xử sơ thẩm đã tuân thủ đung quy đinh của pháp luật tư khi thụ lý vụ án đên khi xét xử vụ án và tại phiên tòa hôm nay đảm bảo khách quan, vô tư, đung quy đinh của pháp luật. Tuy nhiên, kiên nghi Tòa án vi phạm thơi hạn chuẩn bi xét xử.

Về đương lối giải quyêt vụ án: Đề nghi chấp nhận cho bà B được ly hôn vơi ông Tr; về con chung: Đề nghi giao cháu Trần Hoàng Minh D2, sinh ngày 03/7/2014 cho bà B trực tiêp nuôi dương. Tạm thơi ông Tr không phải cấp dương nuôi con do bà B không yêu cầu. Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyêt, về nợ chung: Các đương sự khai không có, nên đề nghi không xem xét, giải quyêt. Về án phi: Đề nghi buôc nguyên đơn phải chiu án phi theo quy đinh của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kêt quả tranh tụng tại phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Bà Hoàng Thi B khởi kiện yêu cầu ly hôn vơi ông Trần Tấn Tr, tranh chấp về nuôi con Trần Hoàng Minh D2, sinh ngày 03/7/2014. Vi vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyêt trong vụ án này được xác đinh là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy đinh tại khoản 1 Điều 28 của Bô luật tố tụng dân sự; bi đơn ông Tr có nơi cư tru tại: khu phố T, phương L, thành phố K nên vụ án thuôc thẩm quyền giải quyêt của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh theo quy đinh tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bô luật tố tụng dân sự.

Bà Hoàng Thi B văng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghi xét xử văng mặt; căn cứ khoản 1 Điều 228 Bô luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiên hành xét xử văng mặt nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà B và ông Tr được xác lập trên cở sở tự nguyện, đăng ký kêt hôn tại Ủy ban nhân dân xã Xuân Thạnh, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai vào ngày 17/5/2014, được cấp giấy chứng nhận kêt hôn theo quy đinh, vào sổ cấp giấy số 52 (But lục số 6), do đó đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.

Lơi khai của nguyên đơn về mâu thuân vợ chồng phu hợp vơi kêt quả xác minh của Tòa án. Do đó, có đủ cơ sở xác đinh, quá trinh sống chung, vợ chồng bà Bé và ông Trung đã không còn thương yêu, tôn trong, quan tâm, chăm sóc, giup đơ nhau.

Quá trinh chuẩn bi xét xử ông Tr cho răng còn thương yêu vợ con, mong muốn được đoàn tụ cung bà B. Tuy nhiên, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Trung để tham gia hòa giải, nhưng ông Trung cố tinh văng mặt. Mặt khác, tư khi bà B và các con về sinh sống tại xã T, huyện N ông Tr chưa môt lần tơi hoi thăm vợ con. Điều này thể hiện, ông Tr không có thiện chi để hòa giải và không thật sự mong muốn đoàn tụ gia đinh.

Tại phiên tòa hôm nay, ông Tr đồng ý ly hôn vơi bà B vi cho răng vợ chồng không còn khả năng hàn găn, đoàn tụ.

Xét thấy hôn nhân giữa bà B và ông Tr đã lâm vào tinh trạng trầm trong, đơi sống chung không thể kéo dài, mục đich hôn nhân không đạt được. Vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy đinh tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đinh. Tại phiên tòa, bi đơn cung thưa nhận mâu thuân vợ chồng không còn khả năng, hàn găn, đoàn tụ và đồng ý ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đinh thi yêu cầu ly hôn của bà B đối vơi ông Tr là có cơ sở chấp nhận.

Về con: Bà B và ông Tr thưa nhận có 03 (ba) ngươi con là Trần Hoàng Hoài Th, sinh ngày 10/9/2000, Trần Hoàng Minh D, sinh ngày 17/5/2002, Trần Hoàng Minh D2, sinh ngày 03/7/2014. Khi ly hôn, bà B yêu cầu được trực tiêp nuôi dương cháu D2. Bà Bé không yêu cầu ông Tr thực hiện nghĩa vụ cấp dương nuôi con.

Tại phiên tòa, ông Trung đồng ý giao cháu Trần Hoàng Minh D2 cho bà B trực tiêp nuôi dương, tạm thơi không cấp dương nuôi con.

Riêng cháu Trần Hoàng Hoài Th và Trần Hoàng Minh D đã thành niên, có khả năng lao đông nên không yêu cầu tòa án giải quyêt.

Xét các đương sự đã thống nhất được việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung nên ghi nhận.

Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyêt;

Về nợ chung: Các đương sự xác nhận vợ chồng không có nợ chung nên không xem xét, giải quyêt.

Về án phi: Bà B là nguyên đơn trong vụ án ly hôn, do đó bà B phải nôp tiền án phi dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về đương lối giải quyêt vụ án là phu hợp vơi nhận đinh của Hôi đồng xét xử, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 235 và Điều 273 của Bô luật Tố tụng dân sự;

- Các điều 19, 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đinh;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghi quyêt 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thương vụ Quốc hôi quy đinh về mức thu, miên, giảm, thu, nôp, quản lý và sử dụng án phi lệ phi Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thi B về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối vơi ông Trần Tấn Tr.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Hoàng Thi B và ông Trần Tấn Tr ly hôn.

2. Về con: Giao cháu Trần Hoàng Minh D2, sinh ngày 03/7/2014 cho bà B trực tiêp trông nom, chăm sóc, nuôi dương và giáo dục. Tạm thơi ông Tr không phải cấp dương nuôi con, do bà Bé không yêu cầu.

Ông Tr có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở. Vi lợi ich của con, khi có yêu cầu, Tòa án có thể quyêt đinh thay đổi ngươi trực tiêp nuôi con, cấp dương hoặc thay đổi mức cấp dương nuôi con theo quy đinh của pháp luật.

3. Về tài sản chung: Bà B và ông Tr không yêu cầu Tòa án giải quyêt;

4. Về nợ chung: Bà B và ông Tr xác nhận không có, nên không xem xét giải quyêt.

5. Về án phi: Bà Hoàng Thi B phải chiu 300.000đ (Ba trăm nghin đồng) án phi dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trư vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghin đồng) bà B đã nôp tạm ứng theo biên lai thu số 0008523 ngày 22-4-2021 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. Bà B đã nôp đủ án phi.

Ngươi được thi hành án dân sự, ngươi phải thi hành án dân sự có quyền thoa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bi cương chê thi hành án theo quy đinh tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thơi hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đinh tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

6. Về quyền kháng cáo: ông Trung có quyền kháng cáo trong thơi hạn 15 ngày kể tư ngày tuyên án; bà Bé có quyền kháng cáo trong thơi hạn 15 ngày kể tư ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ