- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thị Ngọc Thảo - Nguyễn Việt Linh"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thị Ngọc T, chị Thị Ngọc T được ly hôn với anh Nguyễn Việt L.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2022/HNGĐ-ST Ngày: 26/01/2022 Về việc: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Mỹ Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Em
2. Bà Nguyễn Thị Tua
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thông – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 26/01/2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 204/2021/TLST-HNGĐ ngày 09/11/2021 về việc Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/01/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2022/QĐST-DS ngày 17/01/2022 giữa các đương sự :
1. Nguyên đơn: Chị Thị Ngọc T, sinh năm: 2000
Địa chỉ: ấp A, xã Vị T, huyện V, tỉnh Hậu Giang.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Việt L, sinh năm: 1993.
Địa chỉ: ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 11 năm 2021 nguyên đơn chị Thị Ngọc T trình bày: Chị và anh Nguyễn Việt L là tự nguyện kết hôn đến năm 2019 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã Vị Thanh, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống không còn hạnh phúc nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Việt L.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Văn G, sinh ngày 03/4/2018. Con chung hiện do anh Nguyễn Việt L nuôi dưỡng, khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đ/tháng.
Về tài sản chung là không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung không có nợ ai và cũng không có cho ai nợ nên không yêu cầu giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Việt L: Mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Trong quá trình giải quyết vụ án chị Thị Ngọc T đã nộp cho Tòa án Giấy chứng nhận kết hôn, bản sao giấy chứng minh nhân dân, bản sao sổ hộ khẩu, bản sao giấy khai sinh, đơn xin xác nhận.
Kết quả xác minh tại địa phương thể hiện: Chị Thị Ngọc T và anh Nguyễn Việt L là vợ chồng tuy nhiên đã không còn chung sống với nhau. Con chung hiện do anh L nuôi dưỡng.
Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, tự nguyện giao con cho bị đơn tiếp tục nuôi dưỡng. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Đối với anh Nguyễn Việt L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Việt L theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị Ngọc T và anh Nguyễn Việt L tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tạo điều kiện để cho chị Thị Ngọc T và anh Nguyễn Việt L hòa giải với nhau nhưng không mang lại kết quả. Anh chị cũng đã ly thân. Xét thấy hôn nhân phải dựa trên sự tự nguyện và phải có sự yêu thương, chăm sóc lẫn nhau. Nhưng đối với hôn nhân của chị Thị Ngọc T và anh Nguyễn Việt L đã phát sinh mâu thuẫn và không còn sự yêu thương, chăm sóc lẫn nhau nữa. Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa anh chị đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cho chị Thị Ngọc T được ly hôn với anh Nguyễn Việt L.
. Về con chung: Anh chị có 01 con chung hiện tại đang sống với anh L. Trong quá trình giải quyết vụ án chị T yêu cầu được nuôi con và yêu cầu anh L cấp dưỡng 1.000.000 đ/tháng, tuy nhiên tại phiên tòa chị T tự nguyện giao con cho anh L nuôi dưỡng, xét thấy đây là sự định đoạt của đương sự phù hợp với điều kiện hiện tại của các đương sự và sự ổn định của con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị T, giao con chung cho anh L tiếp tục nuôi dưỡng.
Chị Thị Ngọc T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
. Do anh Nguyễn Việt L không có yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét. Khi có yêu cầu anh L có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.
. Về tài sản chung và nợ chung: Về tài sản chung và nợ chung không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Đương sự còn phải chịu án phí theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án và được kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 5, 6, 28, 35, 39, 91, 147, 271, 273, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thị Ngọc T, chị Thị Ngọc T được ly hôn với anh Nguyễn Việt L.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Văn G, sinh ngày 03/4/2018 cho anh Nguyễn Việt L tiếp tục nuôi dưỡng.
Chị Thị Ngọc T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về tài sản chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nguyên đơn chị Thị Ngọc T phải nộp số tiền là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), được chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã đóng theo biên lai thu tiền số 0002580 ngày 09/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy thành án phí, chị Thị Ngọc T không phải nộp thêm.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ tại địa phương nơi cư trú.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Vị Thủy; - Chi cục TAHDS huyện Vị Thủy; - TAND tỉnh Hậu Giang; - UBND xã nơi ĐKKH; - Cổng TTĐT (để công bố); - Lưu hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Thị Mỹ Trúc |