vanban.org

Bản án 03/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Bà Đỗ Thị M được ly hôn với ông Dương Quang Công.

Về con chung: Không đặt ra giải quyết. Về tài sản: Không đặt ra giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Đỗ Thị M được ly hôn với ông Dương Quang Công.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẾ VÕ
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2022/HNGĐ - ST
Ngày: 28/11/2022
V/v: Tranh chấp hôn nhân
và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Đình Công

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thùy Phương

Bà Phan Thị Nhụ

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Thứ – Thư ký TAND huyện Quế Võ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Võ xét xử sơ thẩm Ckhai vụ án dân sự thụ lý số 11/2022/TLST - HNGĐ ngày 05/10/2022 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 03/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 08/11/2022 và các Quyết định hoãn phiên tòa, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị M, sinh năm 1972 (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Dương Quang C, sinh năm 1968 (Vắng mặt)

Cùng trú tại: Thôn Đông Du Núi, xã Đào Viên, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Đỗ Thị M trình bày:

- Về hôn nhân: Bà và ông Dương Quang Ckết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đào Viên năm 1990. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống ngay. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận đến năm 2010, thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, tính cách và kinh tế, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi cọ, xô sát. Vợ chồng ly thân từ năm 2010 đến nay.

Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn được. Nên bà xin ly hôn với ông Dương Quang C.

- Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Dương Quang Trường, sinh ngày 25/2/1991; Dương Thị Trang, sinh ngày 23/4/1993 và Dương Quang Anh, sinh ngày 28/7/2002. Hiện các cháu đều khỏe mạnh và trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.

- Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và Cnợ.

Ngoài ra, bà không có yêu cầu gì khác.

* Đối với bị đơn là ông Dương Quang Công: Tòa án đã trực tiếp làm việc với ông Cnhưng ông Ckhông trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của bà M, cũng như không có yêu cầu phản tố. Mặt khác, từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã tống đạt hợp lệ toàn bộ các văn bản tố tụng cho ông Cnhưng ông Cđều vắng mặt không có lý do.

* Tại Biên bản làm việc ngày 04/11/2022, Trưởng thôn Đông Du Núi, xã Đào Viên là ông Nguyễn Văn Quang cho biết: Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng bà M, ông Clà do ông Cthường xuyên say rượu dẫn đến vợ chồng hay xảy ra đánh cãi chửi nhau. Việc này đã xảy ra rất lâu rồi.

* Tại Biên bản ghi lời khai ngày 24/10/2022, con gái ông Công, bà M là chị Dương Thị Trang trình bày: Khoảng hơn 10 nay thì bố mẹ chị thường xuyên mâu thuẫn do bố chị nhiều lần uống rượu say, về nhà cãi chửi nhau với mẹ chị. Bố mẹ chị ly thân được khoảng 10 năm nay.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Bà Đỗ Thị M giữ nguyên lời trình bày và các yêu cầu nêu trên.

- Ông Dương Quang Cđã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ phát biểu ý kiến:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đều đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự, riêng bị đơn chấp hành chưa đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX:

Áp dụng các điều 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M được ly hôn với ông Dương Quang Công.

- Về con chung, tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.

- Về án phí: Bà M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tố tụng:

Bà Đỗ Thị M khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là ông Dương Quang Ctrú tại thôn Đông Du Núi, xã Đào Viên, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, nên quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án này là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” và Tòa án nhân dân huyện Quế Võ có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.

Bị đơn là ông Dương Quang Cđã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt ông Công.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân:

Bà Đỗ Thị M và ông Dương Quang Ckết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đào Viên, nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp.

Về mâu thuẫn vợ chồng, trên cơ sở lời trình bày của các bên đương sự và kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án, thì thấy: Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận nhưng khoảng 10 năm nay thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông Cthường xuyên say rượu dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra xô sát. Vợ chồng ly thân được khoảng 10 năm nay.

Quá trình chuẩn bị xét xử, bà M xác định vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa nên nhiều lần đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải mà đưa vụ án ra xét xử theo quy định. Về phía ông Công, Tòa án đã trực tiếp làm việc với ông nhưng ông không có ý kiến gì về yêu cầu xin ly hôn của bà M, ông cũng không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Thêm nữa, từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã tống đạt hợp lệ toàn bộ các văn bản tố tụng cho ông nhưng ông đều vắng mặt không có lý do, điều này thể hiện ông Ckhông thực sự muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Vì vậy có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa ông Cvà bà M đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà M đối với ông Công.

Về con chung: Vợ chồng bà M, ông Ccó 03 con chung là Dương Quang Trường, sinh ngày 25/2/1991; Dương Thị Trang, sinh ngày 23/4/1993 và Dương Quang Anh, sinh ngày 28/7/2002. Hiện các anh chị đều khỏe mạnh và trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung. Vì vậy, HĐXX không đặt ra giải quyết.

Về tài sản: Các bên đương sự đều không có yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bà M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Đề nghị của Đại diện VKSND huyện Quế Võ tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các điều 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

1. Về hôn nhân: Bà Đỗ Thị M được ly hôn với ông Dương Quang Công.

2. Về con chung: Không đặt ra giải quyết.

3. Về tài sản: Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Bà Đỗ Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận bà M đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0006555 ngày 05/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Võ. Bà M đã nộp đủ án phí.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND, VKSND tỉnh Bắc Ninh;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Quế Võ;

- Chi cục THADS huyện Quế Võ;

- UBND xã Phượng Mao, huyện Quế Võ;

- Đương sự;

- Lưu hs.

Phan Đình Công THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thùy Phương

Phan Thị Nhụ

Phan Đình Công Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND, VKSND tỉnh Bắc Ninh;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Quế Võ;

- Chi cục THADS huyện Quế Võ;

- UBND xã Đào Viên, huyện Quế Võ;

- Đương sự;

- Lưu hs.

Phan Đình Công Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND, VKSND tỉnh Bắc Ninh;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Quế Võ;

- Chi cục THADS huyện Quế Võ;

- UBND xã Mộ Đạo, huyện Quế Võ;

- Đương sự;

- Lưu hs.

Phan Đình Công

Cỡ chữ