vanban.org

Bản án 03/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H, cụ thể:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với anh Trần Văn P. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Trần Văn P có hai con chung tên Trần Nguyễn Thành N, sinh ngày: 07/3/2006 và Trần Nguyễn Thu M, sinh ngày: 10/12/2009. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H xin ly hôn với anh T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H, cụ thể:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 03/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 12-01-2022
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Dân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hiền.

2. Bà Mai Thị Nhặc.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 244/2021/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2021 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 233/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 248/2021/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm: 1987. Địa chỉ: Ấp TH, xã TT, huyện M, tỉnh Bến Tre (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Trần Văn P, sinh năm: 1985. Đăng ký thường trú: Ấp TS, xã CS, huyện M, tỉnh Bến Tre. Chỗ ở hiện nay: Ấp TH, xã TT, huyện M, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:

Chị và anh Trần Văn P quen biết, qua thời gian tìm hiểu và tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TT, huyện M, tỉnh Bến Tre và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 10/11/2005. Sau khi thành hôn, chị và anh Út sống tại ấp TH, xã TT, huyện M, tỉnh Bến Tre. Thời gian đầu cuộc sống hôn nhân hạnh phúc. Đến đầu năm 2019, anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm về cuộc sống, thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên anh chị ly thân từ tháng 01/2019 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, anh chị có gặp gỡ nhưng không thể hàn gắn đoàn tụ được. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn với anh Út.

Về con chung: Chị và anh Út có hai con chung tên Trần Nguyễn Thành N, sinh ngày: 07/3/2006 và Trần Nguyễn Thu M, sinh ngày: 10/12/2009, hiện các con đang sống chung với chị. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung sau khi ly hôn, không yêu cầu anh Út cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn là anh Trần Văn P vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa, anh Út cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của anh về những nội dung có liên quan đến yêu cầu khởi kiện của chị H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

+ Thẩm phán thụ lý và giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cụ thể:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chị H được ly hôn với anh P.

+ Về con chung: Chị H và anh P có hai con chung tên Trần Nguyễn Thành N, sinh ngày: 07/3/2006 và Trần Nguyễn Thu M, sinh ngày: 10/12/2009. Chị H được quyền tiếp tục trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung là Trần Nguyễn Thành N và Trần Nguyễn Thu M, ghi nhận chị H không yêu cầu anh P cấp dưỡng cho con.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Chị H trình bày không tranh chấp tài sản chung, không có nợ chung nên không xem xét.

ư]

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị Thu H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị với anh Trần Văn P có nơi đăng ký thường trú tại ấp TS, xã CS, huyện M, tỉnh Bến Tre; chỗ ở hiện nay tại ấp TH, xã TT, huyện M, tỉnh Bến Tre nên Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre thụ lý, giải quyết là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn anh Trần Văn P đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vẫn vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Thu H và anh Trần Văn P theo quy định tại các điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Trần Văn P tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TT, huyện M, tỉnh Bến Tre và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 10/11/2005 nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh P được xem là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, chị H cho rằng cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh P không hạnh phúc do anh chị có sự khác biệt về quan điểm sống dẫn đến việc thường xuyên cãi vã và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Khi mâu thuẫn xảy ra, anh chị đã tìm cách hàn gắn nhưng không thành. Từ tháng 01/2019 đến nay, chị H và anh P ly thân, không ai quan tâm gì đến ai, anh chị không thể hàn gắn đoàn tụ được. Quá trình Tòa án giải quyết, anh P không có văn bản gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến về hôn nhân giữa anh và chị H, cũng như anh P không có mặt tại Tòa án để tham gia phiên hòa giải nhằm mục đích hàn gắn đoàn tụ. Từ đó, cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh P đã đến mức trầm trọng, không thể đoàn tụ để tiếp tục cuộc sống chung của vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh P.

Về con chung: Chị H và anh P có hai con chung tên Trần Nguyễn Thành N, sinh ngày: 07/3/2006 và Trần Nguyễn Thu M, sinh ngày: 10/12/2009. Chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng Trần Nguyễn Thành N và Trần Nguyễn Thu M, không yêu cầu anh P cấp dưỡng cho con.

Xét thấy, khi được Tòa án lấy ý kiến thì cháu N và cháu M có nguyện vọng được sống cùng chị H sau khi chị H và anh P ly hôn, ý kiến của các cháu là tự nguyện, không bị ai ép buộc; yêu cầu của chị H cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu N và cháu M. Bên cạnh đó, hai cháu sống cùng với chị H từ khi chị H và anh P sống ly thân cho đến nay, chị H cũng đảm bảo tốt việc nuôi dưỡng các con. Anh P vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm, cũng không có văn bản gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến của anh P về việc nuôi con. Do đó, để đảm bảo sự phát triển bình thưởng của cháu N và cháu M cả về thể chất lẫn tinh thần nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H, giao con là Trần Nguyễn Thành N và Trần Nguyễn Thu M cho chị H tiếp tục trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng cho con: Chị H không yêu cầu anh P cấp dưỡng cho con nên ghi nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị H trình bày không tranh chấp tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh P vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm, cũng không có văn bản gửi cho Tòa án để thể hiện ý kiến của anh P về việc yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre tại phiên tòa là phù hợp với các nhận định nêu trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị H là người khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H, cụ thể:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với anh Trần Văn P.

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Trần Văn P có hai con chung tên Trần Nguyễn Thành N, sinh ngày: 07/3/2006 và Trần Nguyễn Thu M, sinh ngày: 10/12/2009.

Chị Nguyễn Thị Thu H được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung là Trần Nguyễn Thành N và Trần Nguyễn Thu M.

Ghi nhận chị Nguyễn Thị Thu H không yêu cầu anh Trần Văn P cấp dưỡng cho con.

Anh Trần Văn P có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở anh thực hiện quyền này. Trong trường hợp anh Trần Văn P lạm dụng việc thăm nuôi con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì chị Nguyễn Thị Thu H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Trần Văn P.

Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi việc cấp dưỡng cho con.

Trong trường hợp có yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc của cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Trần Văn P không tranh chấp tài sản chung nên không xem xét.

4. Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Trần Văn P không có nợ chung nên không xem xét.

5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001499 ngày 25 tháng 10 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Bến Tre. Chị Nguyễn Thị Thu H đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ