- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Thị Hồng V.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 03/2022/HNGĐ-ST Ngày: 06/01/2022 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Phẩm
2. Ông Nguyễn Thành Long
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Liên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân Nga – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 49/2021/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2021 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2021, giữa các đương sự:
1. NguY đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1989 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp ĐB, xã TL, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Chí Y, sinh năm 1991 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp ĐB, xã TL, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02/3/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng V trình bày:
Vào năm 2010 chị Nguyễn Thị Hồng V và anh Nguyễn Chí Y qua quen biết nên đã kết hôn có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Tân Long, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 04/4/2011, theo giấy chứng nhận kết hôn số 19/2011, quyển số 01/2011. Vợ chồng chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Văn Hoài T, sinh ngày 09/10/2011, hiện cháu đang sống chung với chị V.
Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến cuối năm 2019 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, mâu thuẫn kéo dài vẫn không khắc phục được, nên chị V và anh Y đã ly thân từ cuối năm 2019 cho đến nay và không có đoàn tụ trở lại.
Nay chị V cảm thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, ly thân đã lâu, không thể hàn gắn lại được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị V yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Chí Y.
- Về con chung: Chị V yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn Hoài T, sinh ngày 09/10/2011, chị không yêu cầu anh Nguyễn Chí Y phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị V có đơn xin xét xử vắng mặt.
Trong quá trình giải quyết vụ án con chung trên 07 tuổi của nguyên đơn và bị đơn cháu Nguyễn Văn Hoài T, sinh ngày 09/10/2011 trình bày: Cháu là con chung của ông Nguyễn Chí Y và bà Nguyễn Thị Hồng V, khi cha mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với mẹ; đồng thời cháu xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Ngoài ra, không có ý kiến gì khác.
Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã thông báo cho bị đơn anh Nguyễn Chí Y biết việc thụ lý vụ án cũng như các yêu cầu của chị V. Nhưng anh Nguyễn Chí Y không có văn bản trả lời và vắng mặt tại tất cả các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, đồng thời đều vắng mặt tại các phiên tòa mặc dù đã được tống đạt triệu tập hợp lệ. Do đó, Tòa án không tiến hành ghi lời khai của bị đơn và hòa giải cho các đương sự được.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành của những người tham gia tố tụng: Đối với các đương sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu của nguY đơn.
+ Về quan hệ hôn nhân: cho chị Nguyễn Thị Hồng V được ly hôn với anh Nguyễn Chí Y.
+ Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn Hoài T, sinh ngày 09/10/2011 cho chị Nguyễn Thị Hồng V nuôi dưỡng.
+ Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị V không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Chị V không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
+ Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; bị đơn có nơi cư trú tại xã Tân Long, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; quá trình tiến hành tố tụng xét xử vụ án, mặc dù đã được triệu tập tống đạt hợp lệ nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguY đơn, bị đơn là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Xét, giữa chị V và anh Y chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Long, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh Y là hợp pháp. Chị V cho rằng trong quá trình vợ chồng chung sống có nhiều mâu thuẫn, nguY nhân là do tính tình hai người không hợp dẫn đến bất đồng quan điểm sống. Từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không khắc phục được nên chị V và anh Y đã ly thân từ cuối năm 2019 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Tòa án cũng đã tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng anh Y đều vắng mặt không có lý do, anh Y không đến phiên tòa, thể hiện anh Y đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình. Điều này cũng chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ là không có, tình trạng hôn nhân giữa chị V và anh Y đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét việc chị V yêu cầu được ly hôn với anh Y là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 9, 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nuôi con chung: Chị V yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn Hoài T, sinh ngày 09/10/2011; xét cháu T hiện do chị V nuôi dưỡng, cháu vẫn phát triển tốt về mọi mặt, cháu T cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với chị V. Do đó, yêu cầu của chị V là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị V không yêu cầu anh Y cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét giải quyết.
Về quyền và nghĩa vụ về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát huyện Mang Thít là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 24, điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
TuY xử:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Thị Hồng V.
1. Về hôn nhân: Cho nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng V được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Chí Y.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Văn Hoài T, sinh ngày 09/10/2011 cho chị Nguyễn Thị Hồng V nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không giải quyết.
4. Về quyền và nghĩa vụ về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không giải quyết.
5. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), số tiền này được khấu trừ từ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít theo lai thu số: 0006763 ngày 03/3/2021. Nguyên đơn không phải nộp thêm tiền án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND huyện Mang Thít; - Chi cục THADS huyện Mang Thít; - UBND xã Tân Long; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Ngọc Bích |