vanban.org

Bản án 03/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.

Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Trần Văn Gi. Về con chung: giao chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi cháu Trần Uyên Nh sinh ngày 09/10/2009 và giao anh Trần Văn Gi trực tiếp nuôi cháu Trần Bảo L sinh ngày 03/9/2012cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được.Chị H, anh Gi không phải … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huế- Giang"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số:03/2022/HNGĐ-ST
Ngày 20/01/2022
“V/v ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Ngọc Thuận

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Minh Tuấn; ông Vũ Quốc Phòng

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên toà:bà Ngô Thị Thanh Quý - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khaivụ án thụ lý số: 100/2021/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2021về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:24/2021/QĐXX-ST ngày30tháng12 năm 2021, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989; nơi ĐKHKTT: tổ dân phố Chợ L, phường Yên B, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam.Chỗ ở: Thôn Trung Th, xã Đại H, huyện Ứng H, thành phố Hà Nội. Có mặt.

* Bị đơn: Anh Trần Văn Gi, sinh năm 1987; địa chỉ:tổ dân phố Chợ L, phường Yên B, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bầy: Chị và anh Gi kết hôn với nhau vào ngày 26/8/2008 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Yên B, huyện Duy T, tỉnh Hà Nam.

Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hạnh phúc được khoảng 5 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp dẫn đến vợ chồng có hành vi xúc phạm danh dự nhân phẩm của nhau, thậm chí xảy ra xô xát, vợ chồng mâu thuẫn trong thời gian kéo dài không được cải thiện, ly thân một số lần, lần gần nhất từ tháng 8/2021 đến nay không quan tâm gì đến nhau. Nay chị nhận thấy không thể tiếp tục chung sống cùng với anh Gi được nữa vì vậy đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng chị được ly hôn.

Bị đơn anh Gi trình bày: Về điều kiện thủ tục kết hôn như chị H trình bày là đúng, anh trình bày vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chị H thường đi làm về muộn, có thời gian đi làm vài ngày mới về và từ ngày 15/10/2021 chị H đã bỏ đi vợ chồng không còn chung sống. Mặc dù đã được người thân khuyên bảo nhưng chị H vẫn không về, anh không liên lạc được với chị H. Nay chị H xin ly hôn anh không đồng ý, nếu chị H kiên quyết xin ly hôn thì anh cũng chấp nhận.

* Về con chung: Vợ chồng cùng trình bày có 02 con chung là Trần Uyên Nh, sinh ngày 09/10/2009 và Trần Bảo L, sinh ngày 03/9/2012

Khi ly hôn chị H xin nuôi cháu Trần Uyên Nh và không yêu cầu anh Gi phải cấp dưỡng nuôi con chung; chị trình bày đang làm cho công ty TNHH SEOJIN AUTO Hà Nam và xuất trình bản phô tô phiếu lương thể hiện thu nhập 6.500.000đ/tháng.Anh Gi xin nuôi cả hai con chung và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng; anh trình bày hiện đang ở nhà hưởng trợ cấp xã hội vì bị tai nạn khiến một bên tay bị liệt nên không xin được việc làm.

* Về tài sản chung, công sức, công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Chị Nguyễn Thị H giữ nguyên quan điểm của mình. Đại diện Viện kiểm sát gửi bài phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án là đúng và đề nghị xử ly hôn giữa chịNguyễn Thị H và anh Trần Văn Gi. Về con chung: giao chị H trực tiếp nuôi cháu Trần Uyên Nh và giao anh Trần Văn Gi trực tiếp nuôi cháu Trần Bảo L; chị H, anh Gi không phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, công sức, công nợ: không đặt ra giải quyết và tuyên án phí theo quy định.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm, sau khi thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa vắng mặt Kiểm sát viên có lý do, HĐXX căn cứ Điều 232 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Tại phiên tòa vắng mặt anh Gi tuy nhiên anh Gi đã có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; HĐXX căn cứ điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Giangtại phiên tòa.

Về quan hệ hôn nhân:Chị Nguyễn Thị H và anh Trần Văn Gi kết hôn trên cơ sở tự nguyện được Uỷ ban nhân dân xã Yên B, huyện Duy T (nay là UBND phường Yên B, thị xã Duy T), tỉnh Hà Nam đăng ký kết hôn vào ngày26/8/2008 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo hộ.

Sau thời gian chung sống giữa vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn là thực tế các bên đã thừa nhận, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng trong sinh hoạt hàng ngày. Mặc dù đã được khuyên can nhưng tình cảm không được cải thiện, chị H bỏ đi sinh sống ở nơi khác, vợ chồng sống ly thân từ tháng 10/2021 đến nay không quan tâm gì đến nhau.Sau khi thụ lý vụ án thì chị H từ chối hòa giải và kiên quyết xin ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài vì vậy cần xử ly hôn giữa chị H và anh Gi là phù hợp thực tế và có căn cứ pháp luật.

Về con chung:vợ chồng có hai con chungTrần Uyên Nh, sinh ngày 09/10/2009 và Trần Bảo L, sinh ngày 03/9/2012. Xét nguyện vọng xin nuôi con chung của các đương sự thấy hiện nay anh Gi bị đau tay hạn chế khả năng lao động vì thế cần giao cho chị H trực tiếp nuôi cháu Trần Uyên Nh và giao anh Gi trực tiếp nuôi cháu Trần Bảo L; chị H, anh Gi không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ, công sức: các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: chị Nguyễn Thị H phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điều 28; 35; 39; 147, 227, 228, 232 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình;

- Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.

1.Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Trần Văn Gi.

2. Về con chung: giao chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi cháu Trần Uyên Nh sinh ngày 09/10/2009 và giao anh Trần Văn Gi trực tiếp nuôi cháu Trần Bảo L sinh ngày 03/9/2012cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được.Chị H, anh Gi không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Nguyễn Thị H, anh Trần Văn Gi được quyền thăm hỏi, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Chị H, anh Gi và các thành viên trong gia đình không được cản trởanh Gi, chị H trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

3. Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ.Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị H đã nộp theo biên lai số 0000719 ngày 26/11/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên được đối trừ khi thi hành án.

Án xử công khai sơ thẩm;Chị Nguyễn Thị H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Văn Gi vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ