vanban.org

Bản án 03/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phạm Thị Ngọc Th và ông Nguyễn Hoàng Th.

Về nuôi con chung: Bà Phạm Thị Ngọc Th và ông Nguyễn Hoàng Th có 01 người con chung là Nguyễn Bảo Ng, sinh ngày 06-01-2005; Giao con chung Nguyễn Bảo Ng, sinh ngày 06-01-2005 cho bà Phạm Thị Ngọc Th trực tiếp nuôi dưỡng; ghi nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị Ngọc Th không yêu cầu ông Nguyễn Hoàng Th…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Phạm Thị Ngọc Th và ông Nguyễn Hoàng Th"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phạm Thị Ngọc Th và ông Nguyễn Hoàng Th.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU ĐỨC
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 18-01-2022
“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Huy Xuân.

2. Ông Lê Ngọc Phi.

-Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 481/2020/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2020 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2021/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Ngọc Th, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Tổ A, thôn B, xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng Th, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Tổ A, thôn B, xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

(Bà Th, ông Th vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn, bà Phạm Thị Ngọc Th trình bày: Sau khi tìm hiểu nhau được khoảng 03 năm thì bà Th và ông Nguyễn Hoàng Th mới đi đến hôn nhân. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới vào năm 2003 và đăng ký kết hôn ngày 29-4-2005 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã C, thành phố B, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng bất đồng quan điểm nên thường xuyên cãi vã nhau. Từ giữa năm 2019 thì ông Th bỏ ra ngoài để sống và vợ chồng bà Th ly thân từ đó cho đến nay. Trong thời gian này bà Th cũng không tìm cách hàn gắn tình cảm vì thấy ông Th không có thiện chí đoàn tụ. Nay, bà Th yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về hôn nhân: Bà Th xin được ly hôn với ông Th.

Về nuôi con chung: Có 01 người con chung là Nguyễn Bảo Ng, sinh ngày 06-01-2005, bà Th có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với ông Nguyễn Hoàng Th được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do vì vậy không lấy lời khai và tiến hành hòa giải được.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn không thực hiện đúng phần quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

Về nuôi con chung: Giao con chung cho bà Th được quyền nuôi dưỡng; ông Th không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà Th không yêu cầu nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bà Th và ông Th sống chung với nhau có đăng ký kết hôn nay bà Th yêu cầu ly hôn nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Nơi cư trú của ông Th là xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nên Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Th vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Th đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai (không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan) nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Th và ông Th trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 29-4-2005 tại UBND xã C, thành phố D, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Theo bà Th nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm nên thường xuyên cãi vã nhau. Bà Th và ông Th cũng ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của bà Th, Tòa án đã triệu tập ông Th để làm việc và hoà giải về quan hệ hôn nhân nhưng ông Th vẫn không đến. Ngoài ra, theo kết quả xác minh tại địa phương thì mâu thuẫn giữa bà Th và ông Th là có thật. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa bà Th và ông Th ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho bà Th được ly hôn với ông Th.

Về nuôi con chung: Xét thấy, từ khi bà Th và ông Th ly thân thì con chung là cháu Nguyễn Bảo Ng, sinh ngày 06-01-2005 do bà Th trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện cháu Ng đã trên 07 tuổi và xin được sống với bà Th. Nay, bà Th cũng có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng con chung là phù hợp nên cần áp dụng khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung cho bà Th nuôi dưỡng; ghi nhận sự tự nguyện của bà Th không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Bà Th không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bà Th phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (DSST) đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

1.Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phạm Thị Ngọc Th và ông Nguyễn Hoàng Th.

2.Về nuôi con chung: Bà Phạm Thị Ngọc Th và ông Nguyễn Hoàng Th có 01 người con chung là Nguyễn Bảo Ng, sinh ngày 06-01-2005;

Giao con chung Nguyễn Bảo Ng, sinh ngày 06-01-2005 cho bà Phạm Thị Ngọc Th trực tiếp nuôi dưỡng; ghi nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị Ngọc Th không yêu cầu ông Nguyễn Hoàng Th cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Nguyễn Hoàng Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng không ai được quyền cản trở.

Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3.Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4.Về án phí: Bà Phạm Thị Ngọc Th phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí DSST đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) mà bà Th đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số TU/2020/0004988 ngày 27 tháng 11 năm 2020; bà Phạm Thị Ngọc Th đã nộp xong án phí DSST đối với yêu cầu ly hôn.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ