vanban.org

Bản án 03/2022/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Phú Yên Tuyên án 19/01/2022 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/01/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về hôn nhân: Ghi nh n sự thu n tình ly hôn giữa ông Mai Xuân L và bà Huỳnh Th D.

[2] Về nuôi con chung: Con chung Mai Xuân Đình, sinh ngày 05/01/1999 và Mai Xuân Đài, sinh ngày 24/6/2000, đã trưởng thành, các đương sự không yêu cầu giải quyết. [3] Về tài sản chung và nghĩa vụ thanh toán chênh lệnh tài sản: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? [1] Về hôn nhân: Ghi nh n sự thu n tình ly hôn giữa ông Mai Xuân L và bà Huỳnh Th D.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2022/HNGĐ-PT
Ngày: 19-01-2022
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Quang;

Các Thẩm phán: Bà Đ u Th Quy và bà Lê Th Thái Lan;

Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Th Tân –Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên: Ông Lê Văn Đ ng – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 19 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 14/2021/TLPT-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2021 về “Tranh chấp ly hôn”.

Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 40/2021/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên b kháng cáo.

Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 17/2021/QĐXX-HNGĐ ngày 01/12/2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Mai Xuân L, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Thôn PN, xã Hòa Thắng, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên (Có mặt);

2. Bị đơn: Bà Huỳnh Th D, sinh năm 1979; Nơi cư trú: Thôn Đại Phú, xã Hòa Quang Nam, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên (Có mặt);

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Mai Son, sinh năm 1940 và bà Lưu Th Gương, sinh năm 1945; Nơi cư trú: Thôn PN, xã Hòa Thắng, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên. (Ông Son có mặt, bà Gương có đơn xin vắng mặt);

4. Người kháng cáo: B đơn Huỳnh Th D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn ngày 20/4/2020, quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Mai Xuân L trình bày:

Ông L kết hôn với bà Huỳnh Th D vào năm 1998, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hòa Quang, huyện Phú Hòa. Sau kết hôn cuộc sống vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2015 ông L biết bà D có quan hệ ngoại tình với người hàng xóm nhưng vợ chồng tự hòa giải. Tháng 8/2019 ông L phát hiện bà D quan hệ bất chính với một người đàn ông khác, nên ông L có trao đổi với bà D và cả hai không sống chung, cùng thống nhất ly hôn. Ngoài ra, bà D còn nghiện cờ bạc, thường xuyên lấy tiền gia đình để chơi, ông L khuyên giải nhưng bà D không nghe. Vợ chồng ly thân từ năm 2019 đến nay. Nay ông L thấy không còn tình cảm với bà D, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn.

Về con chung: Có 02 con chung tên Mai Xuân Đình, sinh ngày 05/01/1999 và Mai Xuân Đài, sinh ngày 24/6/2000, hai con đã trưởng thành nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng có 01 ngôi nhà cấp 4 và các công trình phụ, xây dựng trên diện tích đất 57m2 mà cha mẹ ông L (ông Son, bà Gương) cho, tọa lạc thôn PN, xã Hòa Thắng, huyện Phú Hòa, xe máy, một số v t dụng trong gia đình. Ông L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông L không đồng ý chia diện tích đất 124m2 theo Giấy chứng nh n quyền sử dụng đất mà bà D yêu cầu, vì diện tích đất này là của ông Son, bà Gương cho vợ chồng ông với điều kiện chăm sóc, phụng dưỡng và hương khói cha mẹ ông già yếu.

Ông L không đồng ý chia đối với số tiền có được do bán 03 con bò theo yêu cầu của bà D, vì số tiền đầu tư mua bò không phải của vợ chồng mà ông L phải vay, mượn của Công đoàn nơi ông làm việc và của bạn ông L. Số tiền bán bò có được tổng cộng 81.000.000đ ông đã sử dụng hết để trả nợ tiền mượn đầu tư mua bò ban đầu và mua xe máy cho con, nay không còn.

Về nợ chung: Không có.

Quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn bà Huỳnh Thị D trình bày:

Vợ chồng kết hôn tự nguyện như ông L trình bày. Sau khi kết hôn vợ chồng chỉ cãi vã những chuyện vặt trong gia đình. Bà D biết được ông L ngoại tình nhưng vợ chồng tự hòa giải được. Năm 2019 bà D phát hiện ông L có quan hệ bất chính với người phụ nữ ở xã Hòa Tr , huyện Phú Hòa. Sau đó ông L thay đổi tính tình, thường xuyên gây sự với bà D, đánh đuổi bà ra khỏi nhà, có lần dùng lưỡi liềm hăm dọa gây thương tích, nên bà D sợ bỏ về nhà cha mẹ ruột ở đến nay. Từ đó vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Nay ông L yêu cầu ly hôn, bà D đồng ý ly hôn.

Về con chung: Thống nhất như ông L đã trình bày; Các con đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tài sản chung của vợ chồng:

Bà D không yêu cầu giải quyết đối với tài sản 01 xe máy hiệu Future, 01 xe máy hiệu Vison, 01 xe máy hiệu Wave Stream, 01 tivi hiệu Sam sung, 01 tủ lạnh hiệu Sam sung.

Bà D yêu cầu Tòa án giải quyết chia đôi tài sản gồm 01 ngôi nhà cấp 4 và các v t kiến trúc của vợ chồng gắn liền diện tích đất 124m2 tọa lạc thôn PN, xã Hòa Thắng, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên và 01 máy quạt nước theo kết quả đ nh giá tài sản ngày 04/9/2020. Bà D tự nguyện giao tài sản cho ông L và yêu cầu ông L thanh toán giá tr chênh lệch.

Đối với 03 con bò, vợ chồng mua 01 con vào năm 2016 và mua 02 con vào năm 2018 từ nguồn vốn vợ chồng tự có, tổng số tiền bán được là 100.000.000đ, ông L là người giữ và gởi số tiền này vào Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Phú Yên. Bà không đồng ý lời trình bày của ông L về số tiền đầu tư mua bò và những khoản ông L chi tiêu số tiền bán bò có được. Bà yêu cầu ông L thanh toán một nửa số tiền bán bò. Tuy nhiên, ngày 07/9/2021, bà rút một phần yêu cầu đối với tiền bán 02 con bò mua sau, chỉ yêu cầu ông L thanh toán một nửa số tiền bán con bò đầu tiên vào năm 2017 tr giá 30.000.000đ.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Son, bà Gương trình bày: Năm 2014 ông Son, bà Gương có làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất thuộc thửa 1222, tờ bản đồ 348-B, tọa lạc thôn PN, xã Hòa Thắng, huyện Phú Hòa cho vợ chồng ông L, với điều là vợ chồng L và D phải nuôi dưỡng ông bà đến cuối đời và hương khói, cúng giỗ ông bà tổ tiên. Điều kiện tặng cho hai bên chỉ thỏa thu n miệng, không ghi vào Hợp đồng tặng cho, không viết giấy tờ gì khác. Nay vợ chồng L, D tranh chấp đối với tài sản này thì ông bà thống nhất hướng giao tài sản này cho L quản lý, sử dụng và thanh toán chênh lệch lại cho bà D; Ông, bà không ý kiến gì đến nội dung khác.

Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 40/2021/HNGĐ-ST ngày 23-9-2021 của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên, Quyết đ nh:

Căn cứ vào các Điều 55, 59, 60, 62 của Lu t hôn nhân và gia đình; Áp dụng các Điều 219, Điều 223, Điều 224 và Điều 226 của Bộ lu t dân sự; Điều 65, 147, 227, 228 của Bộ lu t tố tụng dân sự; Điều 27 Ngh quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy đ nh về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử

1. Về hôn nhân: Ghi nh n sự thu n tình ly hôn giữa ông Mai Xuân L và bà Huỳnh Th D.

2. Về nuôi con chung: Con chung Mai Xuân Đình, sinh ngày 05/01/1999 và Mai Xuân Đài, sinh ngày 24/6/2000, đã trưởng thành, đương sự không yêu cầu gì nên không giải quyết.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản:

Ông Mai Xuân L được quyền sử dụng đất có diện tích 124 m2, thuộc thửa đất số thửa 1222, tờ bản đồ 348-B (nay số 19), loại đất ở tại nông thôn, tọa lạc thôn PN, xã Hòa Thắng, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên theo giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số BX 583881, số vào sổ cấp GCN: CH 00010, ngày 16/01/2015 của UBND huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên, có tứ c n:

Phía Đông giáp một phần thửa đất số 1085 của ông Mai Son;

Phía Tây giáp đường bê tông;

Phía Nam giáp thửa đất số 1223 và số 637 của ông Mai Son;

Phía Bắc giáp thửa đất số 705 của ông Hồ Thanh Trúc và thửa đất số 1085 của ông Mai Son.

Các bên có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền làm các thủ tục để được đứng tên sử dụng đối với diện tích đất được giao sử dụng theo quy đ nh của pháp lu t

Ông Mai Xuân L được toàn quyền sở hữu với các tài sản gắn liền trên đất gồm: Nhà cấp 4 (diện tích 27,36 m2) mái lợp tôn xi măng, nền lát gạch ceramic (diện tích 19,44 m2), trần Lampris nhựa, Chái tôn (diện tích 26,6 m2), nhà sau (nhà bếp, diện tích 15,8 m2), nhà vệ sinh (diện tích 06 m2), hàng rào lưới B40 và v t dụng quạt nước, hiệu YoKo.

Buộc ông Mai Xuân L có trách nhiệm thanh toán giá tr chênh lệch về tài sản cho bà Huỳnh Th D là 101.615.000đ (một trăm lẻ một triệu sáu trăm mười lăm nghìn đồng).

Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí đ nh giá tài sản và án phí theo quy đ nh của pháp lu t.

-Ngày 05/10/2021 b đơn Huỳnh Thi D có đơn kháng cáo yêu cầu được hưởng ½ giá tr quyền sử dụng đất theo giấy chứng nh n số BX 853881, ngày 16/01/2015 do vợ chồng ông L, bà D đứng tên.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

-B đơn bà Huỳnh Th D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo;

-Nguyên đơn ông Mai Xuân L không chấp nh n yêu cầu kháng cáo của b đơn, yêu cầu Tòa giữ nguyên bản án sơ thẩm.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Son không chấp nh n yêu cầu kháng cáo của b đơn, đề ngh Tòa giải quyết theo quy đ nh của pháp lu t.

-Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp lu t trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy đ nh của Bộ lu t tố tụng dân sự; Về nội dung: Đề ngh Hội đồng xét xử không chấp nh n yêu cầu kháng cáo của b đơn, căn cứ vào Khoản 1 Điều 308 Bộ lu t tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các bên đương sự, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nh n đ nh:

Xét yêu cầu kháng cáo của b đơn xin hưởng ½ giá tr quyền sử dụng đất:

Nguồn gốc đất 124m2, thuộc thửa 1222, tờ bản đồ 348-B, tọa lạc tại thôn PN, xã Hòa Thắng, huyện Phú Hòa mà nguyên đơn và b đơn tranh chấp là của vợ chồng ông Mai Son, bà Lưu Th Gương (cha mẹ ông L). Ngày 24/12/2014 ông Son, bà Gương đã làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất nói trên cho vợ chồng ông L (BL 60) và vợ chồng ông L đã được cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số BX 583881, ngày 16/01/2015 của UBND huyện Phú Hòa.

Ông Son, bà Gương cho rằng vợ chồng ông tặng cho quyền sử dụng đất nói trên cho vợ chồng ông L với điều kiện vợ chồng ông L phải sống hạnh phúc, nuôi dưỡng cha mẹ lúc đến cuối đời, hương khói, cúng giỗ ông bà tổ tiên. Điều kiện tặng cho hai bên chỉ thỏa thu n miệng, không ghi vào hợp đồng tặng cho và không viết giấy tờ gì khác. Trên diện tích đất này vẫn còn tồn tại ngôi nhà của ông Son, bà Gương. Vợ chồng ông Son, bà Gương đang sinh sống cạnh bên thửa đất được cho vợ chồng ông L, bà D.

Các điều khoản trong hợp đồng tặng cho là không có điều kiện, nhưng ý chí của vợ chồng ông Son, bà Gương cũng ngầm hiểu rằng cha mẹ cho đất cho con khi l p gia đình để con xây dựng nhà ở bên cạnh là có ý mong muốn cuộc sống vợ chồng của con được hạnh phúc và sau này còn có trách nhiệm với cha mẹ, nên vợ chồng ông Mai Son trình bày như v y là có căn cứ. Vợ chồng ông L, bà D ly hôn tranh chấp tài sản chung do vợ chồng ông Son, bà Gương tặng cho là không thỏa mãn được ý nguyện ban đầu của ông Son, bà Gương. Nay ly hôn dẫn đến việc vợ chồng ông L, bà D không thể cùng thực hiện nghĩa vụ chăm sóc cho ông vợ Son, bà Gương và thờ cúng sau này. Hội đồng xét xử nh n đ nh lời trình bày của ông Son là có căn cứ, nên được xem đây là hợp đồng tặng cho có điều kiện.

Từ các căn cứ đã được nh n đ nh nêu trên, Hội đồng xét xử thấy: Tòa cấp sơ thẩm đã xem xét một cách toàn diện, nh n đ nh đầy đủ, có xem xét đến nguồn gốc đất, giao cho bà D được hưởng 1/3 giá tr quyền sử dụng đất là phù hợp và bảo đảm quyền lợi của các bên đương sự. Do đó không chấp nh n yêu cầu kháng cáo của b đơn Huỳnh Th D, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các vấn đề khác của bản án sơ thẩm không b kháng cáo, kháng ngh , nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo của b đơn Huỳnh Th D không được chấp nh n, nên phải ch u án phí dân sự phúc thẩm theo quy đ nh của pháp lu t.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 308 của Bộ lu t tố tụng dân sự, không chấp nh n yêu cầu kháng cáo của b đơn bà Huỳnh Th D; Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 40/2021/HNGĐ-ST, ngày 23-9-2021 của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.

Áp dụng các Điều 51, 55, 59, 60, 62 của Lu t hôn nhân và gia đình; Áp dụng các Điều 219, 223 của Bộ lu t dân sự; Điều 147, 148 của Bộ lu t tố tụng dân sự; Điều 27, 29 của Ngh quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy đ nh về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Về hôn nhân: Ghi nh n sự thu n tình ly hôn giữa ông Mai Xuân L và bà Huỳnh Th D.

[2] Về nuôi con chung: Con chung Mai Xuân Đình, sinh ngày 05/01/1999 và Mai Xuân Đài, sinh ngày 24/6/2000, đã trưởng thành, các đương sự không yêu cầu giải quyết.

[3] Về tài sản chung và nghĩa vụ thanh toán chênh lệnh tài sản:

Giao ông Mai Xuân L được quyền sử dụng đất có diện tích 124m2, thuộc thửa đất số thửa 1222, tờ bản đồ 348-B (nay số 19), loại đất ở nông thôn, tọa lạc thôn PN, xã Hòa Thắng, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên theo giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số BX 583881, vào sổ cấp GCN: CH 00010, ngày 16/01/2015 của UBND huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên, có tứ c n:

Phía Đông giáp một phần thửa đất số 1085 của ông Mai Son;

Phía Tây giáp đường bê tông;

Phía Nam giáp thửa đất số 1223 và số 637 của ông Mai Son;

Phía Bắc giáp thửa đất số 705 của ông Hồ Thanh Trúc và thửa đất số 1085 của ông Mai Son.

Các đương sự có quyền, nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được chỉnh lý, cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất theo quy đ nh của pháp lu t.

Giao ông Mai Xuân L được toàn quyền sở hữu với các tài sản gắn liền trên đất gồm: Nhà cấp 4 (diện tích 27,36m2, mái lợp tôn xi măng, nền lát gạch ceramic diện tích 19,44m2), trần Lampris nhựa, chái tôn (diện tích 26,6m2), nhà sau (nhà bếp, diện tích 15,8m2), nhà vệ sinh (diện tích 06m2), hàng rào lưới B40 và v t dụng quạt nước, hiệu YoKo.

Buộc ông Mai Xuân L có trách nhiệm thanh toán giá tr chênh lệch về tài sản cho bà Huỳnh Th D là 101.615.000đ (một trăm lẻ một triệu sáu trăm mười lăm nghìn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền phải trả, còn phải chịu khoản tiền lãi chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b; 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[4] Về chi phí đ nh giá tài sản và án phí dân sự sơ thẩm: Được giải quyết theo bản án dân sự sơ thẩm số 40/2021/HNGĐ-ST, ngày 23/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc bà Huỳnh Th D phải ch u 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004169 ngày 10-7-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ