- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP V - Nguyễn Phi Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2022/DSST Ngày: 14-01-2022 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thanh Nhàn
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đặng Thị Thu
2. Ông Hoàng Văn Tiến
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới.
Trong ngày 14 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 64/2021/TLST-DS ngày 17 tháng 6 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 149/2021/QĐST-DS ngày 15 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên toà số: 180/2021/QĐST-DS ngày 27/12/2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V. Địa chỉ: Số A đường L, phường L, quận Đ, thành phố H. Người đại diện theo pháp luật: ông Ngô Chí D, Chủ tịch HĐQT. Người đại diện theo ủy quyền: ông Đỗ Thành T, Phó Giám đốc Trung tâm xử lý nợ pháp lý. Người được ủy quyền lại: ông Đào Tùng L, Chuyên viên xử lý nợ, Ngân hàng TMCP V chi nhánh Quảng Bình. Địa chỉ: Tầng X, số Y đường T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. (Văn bản ủy quyền số: 25/2020/UQ-HĐQT ngày 07/7/2020 từ ông Ngô Chí D và Văn bản ủy quyền số 57A/2021/UQ-VPB ngày 11/5/2021 từ ông Đỗ Thành T). Ông L có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Phi Đ, sinh năm: 1979. Địa chỉ: Số nhà H đường P, Tổ dân phố K, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Ông Đ vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
* Trong đơn khởi kiện đề ngày 11/5/2021, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ông Nguyễn Phi Đ có quan hệ vay vốn tại Ngân hàng TMCP V – chi nhánh Quảng Bình – PGD Đồng Hới theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp số LN1912111970155 ngày 13/12/2019 với số tiền cho vay 740.000.000 đồng (Bảy trăm bốn mươi triệu đồng), thời hạn vay 60 tháng, mục đích vay để thanh toán tiền mua xe ô tô tải. Lãi suất trong hạn 9,49%/năm, cố định trong vòng 12 tháng kể từ ngày giải ngân, mức lãi suất sau đó sẽ được điều chỉnh 03 tháng/lần, mức điều chỉnh được quy định trong hợp đồng tín dụng. Lãi suất nợ quá hạn bằng 150% nợ trong hạn. Các kỳ hạn trả nợ lãi và nợ gốc hàng tháng vào ngày 13. Tài sản đảm bảo cho khoản vay nói trên là xe ô tô nhãn hiệu CHENGLONG, số khung D658KL627088, số máy 0LG2L9K00060 có BKS 73C-108.92 theo giấy đăng ký xe ô tô số 029494 do Công an tỉnh Quảng Bình cấp ngày 13/12/2019 mang tên Nguyễn Phi Đ, theo hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp LN1912111970155 ngày 13/12/2019. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Phi Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và phải chịu lãi suất nợ quá hạn theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Tính đến hết ngày 14/01/2022, ông Nguyễn Phi Đ còn nợ Ngân hàng TMCP V số tiền 744.336.878 đồng (trong đó, nợ gốc là 581.146.339 đồng, nợ lãi là 151.422.396 đồng, lãi chậm trả là: 11.768.144 đồng).
Để thu hồi nợ vay nói trên, Ngân hàng TMCP V đề nghị Tòa án buộc ông Nguyễn Phi Đ phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền tính đến hết ngày xét xử 14/01/2021 là: 744.336.878 đồng. Buộc ông Nguyễn Phi Đ phải tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh cho đến ngày ông Đ thực tế thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP V. Trường hợp ông Đ không thanh toán nợ theo yêu cầu của Ngân hàng TMCP V thì Ngân hàng TMCP V có quyền tự xử lý hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản đảm bảo là xe ô tô nhãn hiệu CHENGLONG, số khung D658KL627088, số máy 0LG2L9K00060 có BKS 73C-108.92 theo giấy đăng ký xe ô tô số 029494 do Công an tỉnh Quảng Bình cấp ngày 13/12/2019 mang tên Nguyễn Phi Đ.
* Đối với bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Đ đã ra Thông báo thụ lý vụ án và gửi cho bị đơn kèm theo giấy triệu tập đến tòa án nhưng bị đơn không đến Tòa án theo thời gian quy định. Vì vậy tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp cho bị đơn nhưng không tiến hành giao nhận được (có lập biên bản). Toà án đã niêm yết các quyết định và giấy triệu tập theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại địa chỉ cư trú của bị đơn theo khai báo trong Hợp đồng, nhưng ông Nguyễn Phi Đ không có mặt nên không có ý kiến. Vụ án thuộc trường hợp không
2
tiến hành hòa giải được. Sau khi hoãn phiên tòa lần thứ nhất, ông Nguyễn Phi Đ có văn bản gửi đến tòa án đề nghị hoãn phiên tòa lần thứ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết và cũng là nơi đăng ký nhân khẩu thường trú của bị đơn. Tòa án nhân dân thành phố Đ thụ lý và giải quyết vụ án theo đúng thẩm quyền quy định tại Điều 35; Điều 39; điểm g khoản 1 Điều 40 BLTTDS. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập, hòa giải nhưng bên bị đơn vắng mặt, không tiến hành hòa giải được (có lập biên bản). Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo Quyết định xét xử số 149/2021/QĐST-DS ngày 15/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đ. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất nên HĐXX ra Quyết định hoãn phiên tòa số 180/2021/QĐST-DS ngày 27/12/2021 và ấn định thời gian xét xử vào ngày 14/01/2022 theo đúng quy định tại Điều 227, 233 BLTTDS. Nhưng phía bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên tòa, nên HĐXX căn cứ vào Điều 227; Điều 228 BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Đ.
Về nội dung:
Căn cứ vào hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô và các chứng cứ có trong hồ sơ xác định được: Ngày 13/12/2019, ông Nguyễn Phi Đ có ký kết với Ngân hàng TMCP V chi nhánh Quảng Bình Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp số LN1912111970155 để vay số tiền 740.000.000 đồng, thời hạn vay 60 tháng, mục đích vay là thanh toán tiền mua xe ô tô tải, lãi suất trong hạn là 9,49%/năm, cố định trong vòng 12 tháng kể từ ngày giải ngân, điều chỉnh 3 tháng/lần, lãi suất nợ quá hạn là 150% nợ trong hạn. Tài sản đảm bảo cho khoản vay là xe ô tô nhãn hiệu CHENGLONG, số khung D658KL627008, số máy 0LG2L9K00060 có BKS 73C-108.92 theo giấy đăng ký xe ô tô số 029494 do Công an tỉnh Quảng Bình cấp ngày 13/12/2019 mang tên Nguyễn Phi Đ. Xét hợp đồng tín dụng đã ký kết nêu trên đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật, nên hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia ký kết hợp đồng.
Về nợ gốc: Yêu cầu của Ngân hàng TMCP V buộc ông Nguyễn Phi Đ trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền gốc là 581.146.339 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy: căn cứ vào Hợp đồng, lời khai của nguyên đơn và theo bảng Sao kê tính lãi khoản vay do Ngân hàng TMCP V cung cấp thì ông Đ đã được giải ngân, đã sử dụng vốn vay vào mục đích mua xe ô tô tải có nhãn hiệu CHENGLONG, số khung D658KL627008, số máy 0LG2L9K00060 có BKS 73C-108.92. Quá trình thực
3
hiện hợp đồng, trước khi khởi kiện ông Đ trả được số tiền gốc: 100.853.661 đồng, sau đó đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo các nội dung đã ký kết tại Hợp đồng tín dụng. Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết thì vào ngày 31/12/2021 ông Đ tiếp tục trả thêm tiền gốc 58.000.000 đồng. Tính đến hết ngày 14/01/2022 ông Nguyễn Phi Đ còn nợ Ngân hàng TMCP V số tiền gốc: 581.146.339 đồng. Nay, Ngân hàng TMCP V yêu cầu ông Nguyễn Phi Đ phải trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền trên là có căn cứ, do ông Đ đã vi phạm hợp đồng tín dụng ký kết giữa hai bên về thời gian thanh toán nợ gốc.
Về tiền lãi: Theo hợp đồng thỏa thuận, ông Đ phải thanh toán cho Ngân hàng nợ gốc và lãi trong hạn nhưng ông Đ không thực hiện nên Ngân hàng thông báo thu hồi nợ và chuyển toàn bộ số tiền nợ còn lại thành nợ quá hạn và tính lãi theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng với mức lãi suất được tính theo từng thời kỳ, lãi suất áp dụng trong trường hợp này là 9,49%/năm, sau được điều chỉnh lên 11,90%/năm. Lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Ngày phát sinh quá hạn là 14/9/2020. Tiền lãi phát sinh tính đến hết ngày 14/01/2022 với số tiền là 163.190.540 đồng (trong đó lãi trong hạn: 10.342.575đ, lãi quá hạn: 141.079.821đ, lãi chậm trả: 11.768.143đ), theo bảng kê của Ngân hàng là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Như vậy, tổng số tiền gốc và lãi cần buộc ông Nguyễn Phi Đ trả cho nguyên đơn tính đến hết ngày 14/01/2022 là: 744.336.878 đồng và yêu cầu ông Đ tìm mọi nguồn thu để trả nợ cho ngân hàng số tiền nói trên và tiếp tục tính lãi cho đến khi trả hết số nợ.
Về tài sản đảm bảo cho khoản vay của bị đơn ông Nguyễn Phi Đ: Tài sản đảm bảo cho khoản vay theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1912111970155 ngày 13/12/2019 là xe ô tô nhãn hiệu CHENGLONG, số khung D658KL627008, số máy 0LG2L9K00060 có BKS 73C-108.92 theo giấy đăng ký xe ô tô số 029494 do Công an tỉnh Quảng Bình cấp ngày 13/12/2019 mang tên Nguyễn Phi Đ. Do đó, trường hợp anh Nguyễn Phi Đ vi phạm nghĩa vụ trả nợ cần xử lý tài sản thế chấp nêu trên để đảm bảo thu hồi vốn cho Ngân hàng TMCP V là có cơ sở.
Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm g khoản 1 Điều 40; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
4
- Áp dụng các Điều 116, 119, 317, 300, 320, 323, 385, 398, 401, 463, 465 466 Bộ luật dân sự;
- Áp dụng các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng (2010);
- Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V.
1.1. Buộc ông Nguyễn Phi Đ phải trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền tính đến ngày 14/01/2022 là: 744.336.878 đồng (trong đó dư nợ gốc: 581.146.339 đồng, lãi trong hạn: 10.342.575đ, lãi quá hạn: 141.079.821đ, lãi chậm trả: 11.768.144đ).
1.2. Kể từ ngày tiếp theo, ngày 15/01/2022 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1912111970155 ngày 13/12/2019 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP V và ông Nguyễn Phi Đ.
1.3 Trường hợp ông Nguyễn Phi Đ không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thanh toán không đúng, không đầy đủ các khoản nợ nêu trên, nguyên đơn Ngân hàng TMCP V được quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN1912111970155 ngày 13/12/2019, gồm: xe ô tô nhãn hiệu CHENGLONG, số khung D658KL627008, số máy 0LG2L9K00060 có BKS 73C-108.92 theo giấy đăng ký xe ô tô số 029494 do Công an tỉnh Quảng Bình cấp ngày 13/12/2019 mang tên Nguyễn Phi Đ.
2. Án phí:
2.1. Bị đơn ông Nguyễn Phi Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch để sung quỹ Nhà nước là: 33.773.475 đồng.
2.2. Ngân hàng TMCP V không phải chịu án phí. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí 15.945.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2020/0001965 ngày 17/6/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án
5
dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Báo cho nguyên đơn có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/01/2022); bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND TP Đồng Hới; - Chi cục THADS TP Đồng Hới; - Các đương sự; - Lưu Hồ sơ. 6 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Hoàng Thị Thanh Nhàn |