vanban.org

Bản án 03/2022/DS-ST — Tranh chấp về thừa kế tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Căn cứ khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 4 Điều 91; khoản 1 Điều 147 khoản 2 Điều 165, Điều 241, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

[2]. Tuyên xử: [2.1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cụ Lê Văn B về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Trương Thị H đã chết vào ngày 13/9/2009 không để lại di chúc. Di sản cụ Trương Thị H nằm trong khối tài sản chung với cụ Lê Văn B là 01 lô đất thửa số 130, tờ bản đồ số 22, d… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Tranh chấp về thừa kế tài sản"
  • Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 4 Điều 91; khoản 1 Điều 147 khoản 2 Điều 165, Điều 241, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG ANA
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2022/DS-ST
Ngày: 24 - 02 - 2022
V/v tranh chấp chia di sả n thừ a kế

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Thế Chiến.

2. Ông Huỳnh Tấn Sinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2022, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Krông Ana xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 147/2020/TLST-DS ngày 12 tháng 11 năm 2020 về việc “Tranh chấp chia di sả n thừ a kế ”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2021/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Cụ Lê Văn B, sinh năm 1947; có mặt.

Địa chỉ: Buôn A, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Ngườ i bả o vệ quyề n và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn : Ông Nguyễ n Tiế n T - Luậ t sư Văn phò ng luậ t sư B, Đoà n luậ t sư tỉ nh Đắ k Lắ k; có mặt.

Đị a chỉ : Số X đườ ng Y, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

2. Bị đơn: Ông Lê Xuân H1, sinh năm 1977; có mặt.

Địa chỉ: Buôn B, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

3. Nhữ ng ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Lê Thị H2, sinh năm 1974; có mặt;

- Ông Lê Hữ u T, sinh năm 1980;

- Ông Lê Văn T1, sinh năm 1987;

Cùng địa chỉ: Thôn M, xã I, huyệ n Đ, tỉnh Gia Lai.

+ Bà Lê Thị Kim T2, sinh năm 1990;

Đị a chỉ : Xóm Y, thôn X, huyệ n T, tỉnh Thanh Hóa.

(ông T, ông T1, bà T2 có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn cụ Lê Văn B ghi ngà y 29/9/2020, ngày 23/10/2020 và người bảo vệ quyền và lợi ích h ợp phá p củ a nguyên đơn là ông Nguyễ n Tiế n T trình bày:

Cụ Lê Văn B và cụ Trương Thị H là vợ chồng , quá trình chung sống vợ chồ ng cụ sinh được 05 người con hiệ n đã lậ p gia đì nh có nhà riêng sinh số ng ổn đị nh, gồm: Bà Lê Thị H2, sinh năm 1974; ông Lê Xuân H1, sinh năm 1977; ông Lê Hữu T, sinh năm 1980; ông Lê Văn T1, sinh năm 1987; bà Lê Thị Kim T2, sinh năm 1990.

Vào năm 1994, vợ chồng cụ B, cụ H có nhậ n chuyể n nhượ ng 01 lô đất thổ cư có nhà ở, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 3.440m2 (diện tích đất đo trên thực địa là 3.553,3m2), số thửa 130, tờ bản đồ số 22; đấ t tọ a lạ c tại Buôn A, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, đã được UBND huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 040292 ngày 03/6/1997 cho hộ ông Lê Văn B. Đây là tài sản vợ chồng cụ B, cụ H tự tạo lập trong thờ i kỳ hôn nhân, các con lúc đó còn nhỏ nên không có đóng góp gì trong tài sản chung này.

Đến khi các con cụ trưởng thành và lập gia đình, vợ chồ ng cụ B đã phân chia cho các con một số tài sản, trong đó có ông Lê Xuân H1 đã được cho 2.500m2 đất trồng cà phê vào năm 2000.

Ngày 13/9/2009, cụ H chết không để lại di chúc. Từ đó đến nay cụ B vẫn tiếp tục sống và canh tác, thu hoạch hoa mà u trên thử a đấ t nà y. Bố mẹ đẻ của cụ H là cụ Trương Đ và cụ Nguyễn Thị Y đã chết tại xã L, huyệ n H, tỉnh Hà Tĩnh từ lâu (cụ Đ chết năm 1996, cụ Y chết năm 2004).

Nay cụ B yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia di sản thừa kế của cụ Trương Thị H trong khối tài sản chung vợ chồng cụ là 01 lô đất thổ cư có nhà ở, tài sản trên đất diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 3.440m2 (diện tích đất đo trên thực địa là 3.553,3m2) nêu trên theo quy đị nh phá p luậ t.

Về chi phí khá m chữ a bệ nh , mai tá ng, cúng giỗ cho cụ Trương Thị H thì cụ Lê Văn B không yêu cầ u Tò a á n giả i quyế t.

- Bị đơn ông Lê Xuân H1 trình bày:

Thố ng nhấ t ý kiế n cụ Lê Văn B trình bày về mối quan hệ hôn nhân giữ a cụ B và cụ H là vợ chồ ng, sinh đượ c 05 ngườ i con trong đó có ông Lê Xuân H1.

Quá trình chung sống bố mẹ ông có nhậ n chuyể n nhượ ng 01 lô đất thổ cư có nhà ở, diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 3.440m2 (diện tích đất đo trên thực địa là 3.553,3m2), số thửa 130, tờ bản đồ số 22; đấ t tọ a lạ c tại Buôn A, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, đã được UBND huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 040292 ngày 03/6/1997 cho hộ ông Lê Văn B. Ông H1 và chị ông bà Lê Thị H2 có đóng góp công sức trong tài sản này, vì thời điểm đó chị em ông đã lớn, đã đi làm lúa, làm thuê để đóng góp cho kinh tế gia đình. Tuy nhiên, ông H1 không yêu cầu Tòa án tính công sức đóng góp của ông trong khối tài sản này, ông đồng ý xác định đây là tài sản chung của bố mẹ ông tạo lập trong thời kỳ hôn nhân.

Vào ngày 13/9/2009, mẹ ông cụ Trương Thị H chế t không để lại di chúc. Từ đó đến nay cụ Lê Văn B vẫn tiếp tục sinh sống và canh tác, thu hoạch hoa màu trên thử a đấ t nà y.

Nay cụ Lê Văn B yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia di sản thừa kế của mẹ ông là cụ Trương Thị H trong khối tài sản chung này, ông H1 đề nghị Tòa án xác định di sản thừa kế do cụ Trương Thị H để lại là ½ diệ n tí ch thửa đất nói trên và phân chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật. Khi chia thừa kế ông H1 đề nghị lấy đất, nếu các anh chị em của ông H1 ai lấy tiền thì ông H1 sẽ nhận lấy phần đất của họ và trả bằng tiền mặt.

- Nhữ ng ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H2, ông Lê Hữ u T, ông Lê Văn T1, bà Lê Thị Kim T2 trình bày:

Các đương sự đều thống nhất về mố i quan hệ hôn nhân giữ a cụ B và cụ H, quan hệ huyế t thố ng gia đì nh và di sản của cụ H để lại sau khi chế t không để lạ i di chú c và đồng ý với yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế của cụ Lê Văn B; tuy nhiên ý kiến của các đương sự về phân chia di sả n thừ a kế củ a cụ H như sau:

+ Bà Lê Thị H2 trình bày: Bà đồ ng ý yêu cầ u khở i kiệ n chia di sả n thừ a kế củ a cụ Lê Văn B, bà có nguyện vọng được nhận đất tương ứng với phần di sản được chia cho bà và đề nghị Tòa á n giả i quyế t theo quy đị nh phá p luậ t . Mặ t khác bà H2 đề nghị Tòa án xem xét công sức đóng góp trong khối tài sản chung của cụ B, cụ H và yêu cầu cụ B trả cho bà 150.000.000 đồ ng mà bà cùng bố mẹ (cụ B, cụ H) bỏ công sức cải tạo trồng 400 cây cà phê trên đấ t và là m mộ t căn nhà gỗ 05 gian cho bà , từ năm 1994 cho đế n nay bà H2 đi lấ y chồ ng nên không có công sức đóng góp gì . Bà H2 không có tà i liệ u chứ ng cứ chứ ng minh công sứ c đó ng gó p và o tà i sả n chung củ a cụ B, cụ H.

+ Ông Lê Hữ u T trình bày: Các anh chị em ông không có công sức đóng góp gì đố i vớ i tà i sả n chung củ a bố mẹ là cụ B, cụ H tạo lập, đề nghị Tòa án phân chia di sả n thừ a kế củ a mẹ ông là cụ H chế t để lạ i theo quy đị nh củ a phá p luậ t, đối với phần di sả n ông đượ c hưở ng thì ông tặ ng cho lạ i cụ Lê Văn B.

+ Bà Lê Thị Kim T2 trình bày: Bà đồng ý yêu cầu khởi kiện của bố bà là cụ Lê Văn B, về phầ n di sả n thừ a kế củ a mẹ bà là cụ H chế t để lạ i mà bà đượ c hưở ng thì bà T2 tặ ng cho lạ i cụ Lê Văn B.

+ Ông Lê Văn T1 trình bày: Ông đồ ng ý yêu cầ u khở i kiệ n củ a bố ông là cụ Lê Văn B và xác định diệ n tí ch đấ t 3.440m2, thử a đấ t số 130, tờ bả n đồ số 12 này là tài sản chung của bố mẹ ông là cụ B, cụ H, các anh chị em không có công sứ c đó ng gó p gì , đề nghị Tòa án phân chia di sản thừa kế của cụ Trương Thị H theo quy đị nh phá p luậ t.

* Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk:

- Về trình tự thủ tục tố tụng:

Hội đồng xét xử, Thẩm phán và thư ký tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

Cụ Lê Văn B khởi kiện đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế của bà Trương Thị H đã chế t vào ngày 13/9/2009, khi cụ H chế t không để lạ i di chú c . Hàng thừ a kế thứ nhất của cụ Trương Thị H gồ m: Cụ Lê Văn B, bà Lê Thị H2, ông Lê Xuân H1, ông Lê Hữu T, ông Lê Văn T1, bà Lê Thị Kim T2 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Qua xem xét đề nghị của của các bên đương sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận di sản thừa kế của cụ Trương Thị H chia cho các đồng thừa kế bao gồm: 01 lô đất thửa số 130, tờ bản đồ số 22, diện tích 3.440m2 (diệ n tí ch đấ t đo thự c tế là 3.553,3m2) đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số K 040292 được UBND huyện K cấp ngày 03/6/1997 mang tên hộ ông Lê Văn B, đất tọa lạc tại Buôn A, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk và tài sản trên đất.

Về giá trị tài sản: Đất + tài sản trên đất là 932.700.000 đồng + 77.274.000 đồng = 1.009.974.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản vợ chồng cụ B, cụ H tạo lập trong thời kỳ hôn nhân khi cụ H còn sống là 1.009.974.000 đồng. Do là tài sản chung vợ chồng nên chia cho cụ B và cụ H mỗi người là: 1.009.974.000 đồng : 2 = 504.987.000 đồ ng.

Vậy, di sản của cụ Trương Thị H để lại được chia như sau: Cụ Lê Văn B, bà Lê Thị H2, ông Lê Xuân H1, ông Lê Hữu T, ông Lê Văn T1, bà Lê Thị Kim T2 mỗi người được hưởng là: 504.987.000 đồ ng : 06 ngườ i = 84.164.500 đồ ng

Cụ Lê Văn B + 02 suấ t đượ c cá c con ông Lê Hữ u T , bà Lê Thị Kim T 2 tặ ng cho lạ i nên đượ c chia là : 84.164.500 đồ ng x 3 = 252.493.000 đồ ng.

Bà Lê Thị H2, ông Lê Xuân H1, ông Lê Văn T1 mỗ i ngườ i đượ c chia là : 84.164.500 đồ ng.

Xét ý kiến của ông Lê Xuân H1, bà Lê Thị H 2 khi chia dia sả n thừ a kế của mẹ ông cụ Trương Thị H đều có nguyện vọng muốn nhận đất , tuy nhiên diệ n tí ch chia cho mỗ i ngườ i đều không đủ diệ n tí ch cấ p giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t theo quy đị nh phá p luậ t. Vì vậy, giao cho cụ Lê Văn B tiếp tục quản lý, sử dụng nhà, đất và các tài sản trên đất là phù hợp. Cụ Lê Văn B có trách nhiệm trả giá trị đất và các tài sản trên đất cho bà Lê Thị H2, ông Lê Xuân H1, ông Lê Văn T1 mỗ i ngườ i đượ c hưở ng là: 84.164.500 đồ ng. Cụ Lê Văn B có trách nhiệm liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký biế n độ ng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đấ t theo quy đị nh phá p luậ t.

Về án phí và chi phí tố tụng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:

. Về quan hệ pháp luật: Cụ Lê Văn B khởi kiện đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế của vợ cụ là cụ Trương Thị H đã chế t vào ngày 13/9/2009, khi cụ H chết không để lại di chúc, tài sản nằm trong khối tài sản chung của vợ chồng cụ B, cụ H là 01 lô đất tọa lạc tại Buôn A, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk là quan hệ “Tranh chấp về chia di sả n thừa kế” theo quy định tại khoản 5 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn cư trú tại buôn B, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Krông Ana thụ lý, giải quyết vụ án dân sự là đúng thẩm quyền.

. Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Hữ u T , ông Lê Văn T1, bà Lê Thị Kim T 2 đã được Tòa án nhân dân huyệ n Krông Ana triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt. Áp dụng Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ, theo thủ tục quy định chung.

. Về nội dung:

. Về diện và hàng thừa kế: Theo Giấy chứng tử số 24, quyển số 01 ngày 19/12/2014 của UBND xã D thì cụ Trương Thị H chết vào ngày 13/9/2009; cụ H chế t không để lại di chúc. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 611, Điều 613, điểm a khoản 1 Điều 650, điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự thì diện và hàng thừa kế thứ nhất của cụ Trương Thị H gồm: Cụ Lê Văn B, bà Lê Thị H2, ông Lê Xuân H1, ông Lê Hữu T, ông Lê Văn T1, bà Lê Thị Kim T2.

. Chia di sản thừa kế: Hội đồng xét xử xét thấy:

. Các đương sự đều thống nhất nguồn gốc về đất và tài sản trên đất trong khối di sản gồm: 01 lô đất thửa số 130, tờ bản đồ số 22, diện tích 3.440m2 (diệ n tí ch đấ t đo thự c tế là 3.553,3m2) đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số K 040292 được UBND huyện K cấp ngày 03/6/1997 mang tên hộ ông Lê Văn B, đất tọa lạc tại Buôn A, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk và tà i sả n trên đấ t gồ m có :

01 căn nhà gỗ vách ván , mái lợp ngói , nề n lá ng xi măng , diệ n tí ch 124,1m2 làm năm 1995; 01 nhà tắm xây gạ ch 10cm, diệ n tí ch 3,6m2; 01 sân lá ng xi măng diệ n tí ch 96m2; 01 bồ n nướ c inox 1.500m3; 01 giế ng đà o sâu 23m, đườ ng kí nh 1,2m; 01 hàng rào lưới B 40 cao 1,6m, dài 32m; 348 cây cà phê trồ ng loạ i C ; 06 cây bơ thườ ng loạ i C , 02 cây mã ng cầ u có trá i và 01 cây mí t thườ ng là tài sản chung của vợ chồng cụ B, cụ H được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân.

. Việc bà Lê Thị H2 cho rằng có công sức đóng góp trong việc cải tạo trồng cà phê và làm căn nhà gỗ năm gian. Tòa án đã hướng dẫn bà H2 làm đơn yêu cầ u độ c lậ p , tuy nhiên bà H2 không có đơn yêu cầ u gử i cho Tò a á n ; đồ ng thờ i xét thấy trong khoảng thời gian năm 1994 cụ B, cụ H mới nhận chuyển nhượng lô đất này và cũng năm 1994 bà H2 đi lấy chồng, mặ t khá c bà H2 không có tài liệu chứng cứ chứng minh công sứ c đóng góp của mình nên yêu cầu của bà về tính công sức không có căn cứ để xem xé t giả i quyế t.

. Nguyên đơn cụ Lê Văn B không yêu cầu Tòa án xem xét chi phí điều trị, mai táng, cúng giỗ cho cụ H nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

. Từ những phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy di sản thừa kế của cụ Trương Thị H trong khố i tà i sả n chung vợ chồ ng cụ H, cụ B, gồm:

- 01 lô đất thửa số 130, tờ bản đồ số 22, diện tích 3.440m2 (diệ n tí ch đấ t đo thự c tế là 3.553,3m2) đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số K 040292 được UBND huyện K cấp ngày 03/6/1997 mang tên hộ ông Lê Văn B, đất tọa lạc tại Buôn A, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk và tà i sả n trên đấ t.

Về giá trị tà i sả n: Đất + tài sản trên đất là 932.700.000 đồng + 77.274.000 đồng = 1.009.974.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản vợ chồng cụ B, cụ H tạo lập trong thời kỳ hôn nhân khi cụ H còn sống là 1.009.974.000 đồng. Do là tài sản chung vợ chồng nên chia cho cụ B và cụ H mỗi người là: 1.009.974.000 đồng : 2 = 504.987.000 đồ ng.

Vậy, di sản của cụ Trương Thị H để lại được chia như sau: Cụ Lê Văn B, bà Lê Thị H2, ông Lê Xuân H1, ông Lê Hữu T, ông Lê Văn T1, bà Lê Thị Kim T2 mỗi người được hưởng là: 504.987.000 đồ ng : 06 ngườ i = 84.164.500 đồ ng.

Cụ Lê Văn B + 02 suấ t đượ c cá c con ông Lê Hữ u T , bà Lê Thị Kim T 2 tặ ng cho lạ i nên đượ c chia là : 84.164.500 đồ ng x 3 = 252.493.000 đồ ng.

Bà Lê Thị H2, ông Lê Xuân H1, ông Lê Văn T1 mỗ i ngườ i đượ c chia là : 84.164.500 đồ ng.

Xét ý kiến của ông Lê Xuân H1, bà Lê Thị H 2 khi chia dia sả n thừ a kế của mẹ ông cụ Trương Thị H đều có nguyện vọng muốn nhận đất , tuy nhiên diệ n tí ch chia cho mỗ i ngườ i đề u không đủ diệ n tí ch cấ p giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụng đất theo quy định pháp luật . Đồng thời, hiệ n nay cụ B đang là ngườ i quản lý, sử dụ ng và thu hoa mà u trên diệ n tí ch đấ t nà y . Vì vậy, cầ n giao cho cụ Lê Văn B tiếp tục quản lý , sử dụng nhà, đất và cá c tà i sả n trên đấ t l à phù hợp. Cụ Lê Văn B có trách nhiệm trả giá trị đất và cá c tà i sả n trên đấ t cho bà Lê Thị H2, ông Lê Xuân H1, ông Lê Văn T1 mỗ i ngườ i đượ c hưở ng là : 84.164.500 đồ ng. Cụ Lê Văn B có trách liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biến động Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 040292 được UBND huyện K cấp ngày 03/6/1997 mang tên hộ ông Lê Văn B, thửa số 130, tờ bản đồ số 22, diện tích 3.440m2 (diệ n tí ch đấ t đo thự c tế là 3.553,3m2), đất tọa lạc tại Buôn A, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

. Về án phí và chi phí tố tụng khác:

- Về chi phí đo đạc là 4.295.000 đồng, xem xét thẩm định tại chỗ là 1.500.000đồng, định giá tài sản là 2.500.000đồng: Tổng chi phí tố tụng là: 8.295.000 đồng. Cụ Lê Văn B phải chịu 4.147.500 đồng, ông Lê Xuân H1 phải chịu 4.147.500 đồng. Tổng số tiền này cụ B đã nộp tại Tòa án theo Phiếu thu ngày 16/4/2021 nên ông H1 phải trả lại cho cụ B số tiền 4.147.500 đồng.

- Về án phí:

+ Cụ Lê Văn B là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự theo quy đị nh phá p luậ t.

+ Bà Lê Thị H 2, ông Lê Xuân H1, ông Lê Văn T1 mỗi người phải chịu 4.208.225 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩ m có giá ngạch.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 4 Điều 91; khoản 1 Điều 147 khoản 2 Điều 165, Điều 241, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 468, khoản 1 Điều 611, Điều 612, Điều 613, điểm a khoản 1 Điều 650, điểm a khoản 1 Điều 651, Điều 658, Điều 660 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 167 và Điều 179 của Luật Đất đai;

Căn cứ Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 14 và điểm a khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[2]. Tuyên xử:

[2.1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cụ Lê Văn B về việc yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Trương Thị H đã chết vào ngày 13/9/2009 không để lại di chúc. Di sản cụ Trương Thị H nằm trong khối tài sản chung với cụ Lê Văn B là 01 lô đất thửa số 130, tờ bản đồ số 22, diện tích 3.440m2 (diệ n tích đất đo thực tế là 3.553,3m2) đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số K 040292 do UBND huyện K cấp ngày 03/6/1997 mang tên hộ ông Lê Văn B, đất tọa lạc tại Buôn A, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk và tà i sả n trên đấ t.

Về giá trị tà i sả n: Đất + tài sản trên đất là 932.700.000 đồng + 77.274.000 đồng = 1.009.974.000 đồng.

[2.2]. Cụ Lê Văn B có trách nhiệm trả giá trị nhà, đất và tài sản trên đất cho bà Lê Thị H2, ông Lê Xuân H1, ông Lê Văn T1 mỗ i ngườ i đượ c hưởng là : 84.164.500 đồ ng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luậ t dân sự 2015.

Giao cho cụ Lê Văn B đượ c toàn quyề n quả n lý , sử dụ ng và đị nh đoạ t đố i vớ i thửa đấ t số 130, tờ bản đồ số 22, diện tích 3.440m2 (diệ n tí ch đấ t đo thự c tế là 3.553,3m2) đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào sổ số K 040292 do UBND huyện K cấp ngày 03/6/1997 mang tên hộ ông Lê Văn B, đất tọa lạc tại Buôn A, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk và tài sản trên đất là 01 căn nhà gỗ vá ch ván, mái lợp ngói , nề n lá ng xi măng , diệ n tí ch 121,1m2 làm năm 1995; 01 nhà tắ m xây gạ ch 10cm, diệ n tí ch 3,6m2; 01 sân lá ng xi măng diệ n tí ch 96m2; 01 bồ n nướ c inox 1.500m3; 01 giế ng đà o sâu 23m, đườ ng kí nh 1,2m; 01 hàng rào lưới B40 cao 1,6m, dài 32m; 348 cây cà phê loạ i C ; 06 cây bơ thườ ng loạ i C , 02 cây mãng cầu có trái và 01 cây mí t thườ ng.

Cụ Lê Văn B được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký biến động Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy đị nh phá p luậ t.

[3]. Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản:

Cụ Lê Văn B phải chịu 4.147.500 đồng, ông Lê Xuân H1 phải chịu 4.147.500 đồng . Tổng số tiền này cụ B đã nộp nên ông H1 phải trả lại cho cụ B số tiền 4.147.500 đồng.

[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Cụ Lê Văn B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Lê Thị H 2, ông Lê Xuân H1, ông Lê Văn T1 mỗi người phải chịu 4.208.225 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ