vanban.org

Bản án 03/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1, Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đ Th H C yêu cầu chị Đ Th M trả khoản nợ vay.

2, Buộc chị Đ Th M phải trả khoản nợ vay và lãi suất tính đến ngày 31/12/2021 cho anh Đ Th H C là 124.070.000 đồng. Trong đó tiền gốc là 100.000.000 đồng, tiền lãi là 24.070.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vụ án dân sự"
  • Tòa quyết gì? 1, Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đ Th H C yêu cầu chị Đ Th M trả khoản nợ vay.
  • Căn cứ chính? luật dân sự buộc chị Đ Th M phải trả; Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MINH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 03/2022/DS-ST
Ngày: 20/01/2022
“V/v tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Toàn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Đinh Minh Tặng

Bà: Cao Thị Thu Ngà

Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hà –Thư ký Tòa án

Ngày 20 tháng 01 năm 2022 tại Toà án nhân dân huyện Minh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 18/2021/TLST – DS ngày 24/8/2021 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2021/QĐXXST-DS ngày 24/12/2021 của TAND huyện Minh Hoá giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Đ Th M ( đã chết năm 2019)

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Đ Th H C – sinh năm 1988

Địa chỉ: Thôn T H, xã H H, huyện M H, Qu B. Có mặt

2. Bị đơn: Chị Đ Th M – sinh năm 1979

Địa chỉ: Thôn K T, xã Y H, huyện M H, Qu B. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 16/8/2021 và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà anh Đ Th H C trình bày: Ngày 28/9/2016, chị Đ Th M có mượn sổ lương của bố anh là ông Đ Th M để vay tiền tại Bưu điện huyện Minh Hóa số tiền 150.000.000 đồng, chị M có viết giấy cam kết cho bố anh hẹn thời hạn vay là 05 năm, hàng tháng chị M có trách nhiệm đưa đủ số tiền lương cho bố anh và 400.000 đồng. Đến ngày 29/9/2016, giữa bố anh và chị M đã viết giấy giao nhận tiền cho chị M và chồng chị M là anh Đ V T số tiền 150.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi nhận đủ số tiền chị M không trả đủ số tiền hàng tháng như đã viết trong giấy cam kết. Hiện nay, chị Đ Th M còn nợ bố anh C 100.000.000 đồng. Đến cuối năm 2019 bố anh đã mất do mắc bệnh hiểm nghèo. Vì vậy, anh C với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của bố anh ( ông Đ Th M ) khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị Đ Th M phải thanh toán toàn bộ số tiền còn thiếu nợ của bố anh là 100.000.000 đồng và lãi phát sinh theo quy định.

Tại các phiên hòa giải chị Đ Th M trình bày: Năm 2016 chị có nhờ ông Đ Th M vay số tiền 150.000.000 đồng. Hàng tháng chị có trả đủ số tiền cho ông M theo như cam kết, ông M có ghi chép lại đầy đủ trong cuốn sổ do ông M cất giữ. Giữa chị và con gái của ông M có liên quan đến tiền bạc với nhau chưa giải quyết được nên thời gian sau đó chị không trả đủ số tiền cho ông M nữa. Khi ông M mất, hợp đồng vay tại bưu điện còn dư nợ lại số tiền khoảng 30.000.000 đồng, bên bảo hiểm đã thanh toán đầy đủ. Hiện nay, anh C khởi kiện yêu cầu chị trả số tiền còn lại là 100.000.000 đồng, chị đề nghị anh C xem xét lại giảm bớt một phần nợ gốc và lãi.

Tại phiên toà hôm nay anh Đ Th H C vẫn giữ nguyên quan điểm khởi kiện yêu cầu chị Đ Th M phải thanh toán toàn bộ số tiền còn thiếu nợ của bố anh là 100.000.000 đồng và lãi phát sinh theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, lời khai các bên đương sự, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Vụ kiện tranh chấp về giao dịch dân sự, căn cứ khoản 3 Điều 26 bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện.

Về quan hệ pháp luật: Ngày 28/9/2016, chị Đ Th M viết giấy cam kết mượn sổ lương hưu của ông Đ Th M để vay số tiền 150.000.000 đồng, trả nợ trong thời hạn 05 năm. Ngày 29/9/2016, ông Đ Th M và chị Đ Th M đã viết giấy giao nhận tiền là 150.000.000 đồng, chị Đ Th M đã nhận đủ và thực hiện trả hàng tháng.

Đến tháng 7 năm 2019, chị Đ Th M không thực hiện như cam kết và không trả nợ. Cuối năm 2019 ông Đ Th M ( ốm chết), số tiền còn lại là 100.000.000 đồng. Anh Đ Th H C là người đại diện theo ủy quyền khởi kiện yêu cầu chị Đ Th M trả nợ là có căn cứ chấp nhận.

Quá trình hòa giải anh C và chị M thống nhất số nợ gốc còn 100.000.000 đồng nhưng chị Đ Th M yêu cầu anh C tạo điều kiện thêm thời gian và trả dần một tháng 1.000.000 đồng.

Anh Đ Th H C yêu cầu chị Đ Th M phải trả số tiền gốc và lãi theo quy định nhưng các bên không thỏa thuận mức lãi suất và đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Vì vậy, căn cứ vào điều 158, 166, 463, 466, 468 bộ luật dân sự buộc chị Đ Th M phải trả cho anh Đ Th H C số tiền gốc là 100.000.000 đồng và lãi phát sinh từ tháng 7 năm 2019 đến ngày 31/12/2021 là có cơ sở đảm bảo quyền lợi của nguyên đơn. Vì vậy cần áp dụng khoản 2 điều 468 bộ luật dân sự tính lãi suất 10%/năm tương đương 0,83%/tháng là 24.070.000 đồng.

Đối với yêu cầu của chị Đ Th M về khoản tiền con gái ông Đ Th M là chị Đ Th Th L nợ chị là quan hệ khác không được chấp nhận.

Đối với yêu cầu trừ nợ là không có cơ sở.

Án phí: Chị Đ Th M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Anh Đ Th H C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26 bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng điều 158, 166, 463, 466, 468 bộ luật dân sự năm 2015

1, Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đ Th H C yêu cầu chị Đ Th M trả khoản nợ vay.

2, Buộc chị Đ Th M phải trả khoản nợ vay và lãi suất tính đến ngày 31/12/2021 cho anh Đ Th H C là 124.070.000 đồng.

Trong đó tiền gốc là 100.000.000 đồng, tiền lãi là 24.070.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu Thi hành án đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi suất qui định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

Người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định của Luật Thi hành án dân sự.

3, Án phí: Chị Đ Th M phải chịu 6.203.000 đồng án phí có giá ngạch.

Anh Đ Th H C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 2.500.000 đồng theo biên lai số 0004492 ngày 24/8/2021 tại chi cục thi hành án dân sự huyện Minh Hóa.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, bị đơn. Tuyên bố nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( ngày 20/01/2022).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ