vanban.org

Bản án 03/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu Tuyên án 26/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

bị cáo Trương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trương Văn T 01 năm 06 tháng (một năm sáu tháng) tù, được trừ 09 ngày bị cáo đã bị tạm giữ, còn phải chấp hành 01 năm 05 tháng 21 ngày (một năm năm tháng hai mươi mốt ngày) tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Trương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? bị cáo Trương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÌN HỒ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2021/HS-ST
Ngày 26 tháng 10 năm 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Hằng Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tẩn A Sếnh và Ông Tẩn Phàn Pao

Thư ký phiên tòa: Ông Hờ A Thái - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 10 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo: Trƣơng Văn T; sinh năm: 1993; nơi sinh: huyện SH, tỉnh LC; nơi cư trú: bản CC3, xã CN, huyện SH, tỉnh LC; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: K; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Trương Văn H (sinh năm 1966) và bà Nguyễn Thị X (sinh năm 1970); có vợ là Lò Thị T (sinh năm 1998) và 02 con (con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2018); tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 20 tháng 6 năm 2021 đến ngày 29 tháng 6 năm 2021; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29 tháng 6 năm 2021 tại xã Chăn Nưa, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đến nay; có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lò Thị T; sinh năm 1998; nơi cư trú: bản CC3, xã CN, huyện SH, tỉnh LC; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 20 tháng 6 năm 2021 bị cáo Trương Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 25B1-522.25 thuộc sở hữu của bị cáo và vợ là Lò Thị T đi từ bản Chiềng Chăn 3, xã Chăn Nưa, huyện Sìn Hồ đến Trạm Y tế xã Lê Lợi, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu để uống Methadone. Khoảng 08 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô đi về. Khi đi đến cầu Lai Hà thuộc xã Lê Lợi, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu, T gặp một người đàn ông tên tự giới thiệu là Lò Văn Tình, không rõ lai lịch. Qua nói chuyện, T nhờ người đàn ông đó mua hộ 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng. Người đàn ông nhận lời rồi cầm tiền của T quay đi về phía bản Chợ, xã Lê Lợi, huyện Nậm Nhùn, khoảng 10 phút sau quay lại, đưa cho T 01 gói Heroine được gói ngoài bằng nilon màu hồng. T cất giấu gói Heroine vào túi áo ngực bên phải rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô đi về. Vào hồi 09 giờ 30 phút, ngày 20 tháng 6 năm 2021, khi T đi đến bản Chiềng Chăn, xã Chăn Nưa, huyện Sìn Hồ thì bị Công an huyện Sìn Hồ phát hiện, bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Vật chứng thu giữ của T là 01 gói Heroine được gói ngoài bằng nilon màu hồng, có khối lượng 0,18 gam và 01 xe mô tô biển kiểm soát 25B1-522.25.

Tại Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và trích mẫu giám định hồi 10 giờ 30 phút ngày 21 tháng 6 năm 2021 và bản Kết luận giám định tư pháp số: 53, ngày 21 tháng 6 năm 2021 của người giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xác định: 01 mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Trương Văn T (sau khi đã loại bỏ bao bì bên ngoài) có khối lượng là 0,18 gam. Lấy toàn bộ 0,18 gam chất bột màu trắng thu giữ của T làm mẫu vật gửi giám định chất ma túy.

Tại Bản kết luận giám định số: 548/GĐ-KTHS ngày 24 tháng 6 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 01 mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine (không hoàn lại đối tượng giám định).

Tại Bản cáo trạng số: 54/CT-VKS ngày 05 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu để xét xử bị cáo Trương Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố, không oan, không sai.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố, bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; Về xử lý vật chứng: đối với 0,18 gam Heroine đã được gửi đi giám định, sau khi giám định Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu không hoàn lại mẫu vật, nên không đề cập xử lý; đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-522.25 bị cáo đã sử dụng để đi mua ma túy. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô là tài sản chung của bị cáo và vợ là Lò Thị Trang, chị Trang không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe để đi mua ma túy sử dụng. Ngày 09 tháng 9 năm 2021 Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị Lò Thị Trang; đề nghị Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: tiêu hủy 01 mảnh nilon hồng là vật chứng còn lại trong vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định. Nên các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

Đánh giá chứng cứ, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được thu thập đúng trình tự thủ tục tố tụng hình sự đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Có đủ cơ sở để xác định bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: Vào hồi 09 giờ 30 phút ngày 20 tháng 6 năm 2021, tại bản Chiềng Chăn, xã Chăn Nưa, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, bị cáo Trương Văn T đang thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép 0,18 gam Heroine, với mục đích để bản thân sử dụng thì bị Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo Trương Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do vậy, bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Những chứng cứ buộc tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhân thân của bị cáo, với mức độ nghiêm trọng, nguy hại cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Nên được chấp nhận toàn bộ.

Hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Bị cáo đã học hết lớp 10/12, nhận thức rõ hành vi mua, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Vì không chịu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, không nghe lời khuyên bảo dạy dỗ của cha, mẹ; vì ham chơi ham vui không chính đáng mà bị cáo đã nghiện chất ma túy, nên đã cố ý thực hiện hành vi mua, tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để tiếp tục giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội; đồng thời giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật; đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng trong pháp luật của Nhà nước.

Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành hình phạt tiền, hình phạt tịch thu tài sản; bị cáo không lao động trong các ngành, nghề hoặc đảm nhiệm công việc cần phải cấm; nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 0,18 gam Heroine đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu gửi đi giám định chất ma túy. Sau khi giám định và có kết luận, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu không hoàn lại mẫu vật, nên không đề cập xử lý.

Đối với 01 mảnh nilon màu hồng đã được sử dụng để gói Heroine. Hiện nay mảnh nilon này không có giá trị, không sử dụng được, cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự để tịch thu và tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-522.25 bị cáo đã sử dụng để đi mua ma túy. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô là tài sản chung của bị cáo và vợ là Lò Thị T, chị T không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe để đi mua ma túy sử dụng. Ngày 09 tháng 9 năm 2021 Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị Lò Thị T là phù hợp với quy định tại Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Về án phí: Theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Về nguồn gốc Heroine và trách nhiệm của người có liên quan:

Theo lời khai của bị cáo thì 0,18 gam Heroine bị cáo tàng trữ trái phép là do nhờ một người đàn ông không rõ lai lịch, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Kiến nghị:

Ủy ban nhân dân xã Chăn Nưa, huyện Sìn Hồ tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân địa phương, để người dân hiểu rõ tác hại của việc sử dụng trái phép chất ma túy đối với bản thân của người nghiện, tác hại của tệ nạn ma túy đối với xã hội, để người dân không có những hành vi vi phạm pháp luật, đặc biệt là vi phạm pháp luật về ma túy.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, các Điều 135, 136, 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Tuyên bố:

bị cáo Trương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Hình phạt chính:

Xử phạt bị cáo Trương Văn T 01 năm 06 tháng (một năm sáu tháng) tù, được trừ 09 ngày bị cáo đã bị tạm giữ, còn phải chấp hành 01 năm 05 tháng 21 ngày (một năm năm tháng hai mươi mốt ngày) tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

3. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

4. Xử lý vật chứng: Tiêu hủy 01 mảnh nilon màu hồng.

5. Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 26 tháng 10 năm 2021).

Cỡ chữ