- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi PHí L - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Phi L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 03/2021/HS-ST Ngày: 20/01/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lý Kế Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Quốc Sơn
Ông Đoàn Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hưng, Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Ông Lương Duy Bằng, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 341/2020/TLST-HS ngày 25/12/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2001/QĐXXST-HS ngày 05/01/2021, đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Phi L, Sinh năm: 1982, Tên gọi khác: Không; HKTT: phường H, quận C, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: xã L, huyện Đ, Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Phú M (đã chết), con bà: Nguyễn Thị L. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con út. Vợ: Trần Thị Huyền T có 02 con: Lớn sinh năm 2014; Nhỏ sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Năm 2002 đi cai nghiện bắt buộc tại trung tâm cai nghiện, chấp hành xong vào năm 2003.
Năm 2004 đi cai nghiện bắt buộc tại trung tâm cai nghiện, chấp hành xong vào năm 2006.
Năm 2009 đi cai nghiện bắt buộc tại trung tâm cai nghiện, chấp hành xong vào năm 2013.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 17/8/2020. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 17 tháng 8 năm 2020, tổ công tác Công an phường T làm nhiệm vụ tại đường Đ thuộc phường T, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội phát hiện Bùi Phi L có biểu hiện nghi vấn bán trái phép chất ma túy cho một thanh niên. Tiến hành kiểm tra, L đã thả 02 túi nilon nghi là ma túy gồm: 01 túi có kích thước 3x5 cm bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 túi kích thước 1x2 cm bên trong chứa 10 viên nén màu hồng từ tay phải xuống đất. Tiếp tục kiểm tra xe ô tô nhãn hiệu Mazda CX-5 gắn biển kiểm soát 30G-274.90 do L điều khiển, tổ công tác tiếp tục thu giữ tại khe gối đầu của ghế phụ trong xe 02 túi nilon kích thước 3x5 cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Đối tượng nghi vấn mua ma túy của L bỏ chạy. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang dẫn giải L cùng vật chứng về trụ sở công an quận Nam Từ Liêm để điều tra làm rõ.
Vật chứng thu giữ: 01 túi nilon màu trắng kích thước 3x5 cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 01 túi nilon màu trắng kích thước 1x2cm, bên trong chứa 10 viên nén màu hồng nghi là ma túy; 02 túi nilon kích thước 3x5 cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5, gắn sim số 1: 096.878.XX45 và sim số 2: 096.575.XX28; 01 xe ô tô con nhãn hiệu Mazda CX-5 gắn biển kiểm soát 30G-274.90.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Phi L tại xã L, huyện Đ, Hà Nội, cơ quan điều tra không phát hiện, thu giữ gì.
Kết luận giám định số 7519/KLGĐ-PC09 ngày 26 tháng 8 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an thành phố Hà Nội xác định: Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 9,820 gam.
Kết luận giám định số 7524/KLGĐ-PC09 ngày 26 tháng 8 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an thành phố Hà Nội xác định: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 4,890 gam. 10 viên nén hình tròn màu hồng đều là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 1,010 gam.
Tổng khối lượng ma túy loại Methamphetamine là: 15,720gam.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 17 tháng 8 năm 2020, L đang ở nhà tại địa chỉ xã L, huyện Đ, Hà Nội thì nhận được điện thoại của H (hiện không xác định được nhân thân) gọi từ số 034.611.6710 đến số 094.878.2545 của L nhờ L mua cho H 10 viên ma túy ngựa và 01 hộp 5 (tức 05 gam) ma túy đá, L đồng ý. Sau đó, L điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mazda CX-5 gắn biển kiểm soát 30G-274.90 đi từ nhà đến địa điểm đối diện với tòa nhà phường K, quận H, Hà Nội gặp và mua 3 hộp ma túy loại 05 gam với giá 2.400.000đồng/hộp và 10 viên ma túy ngựa với giá 70.000đồng/viên. Sau khi mua được ma túy, L cất ma túy vào khe gối đầu trên ghế phụ của xe ô tô rồi gọi điện cho H thông báo là đã mua được ma túy. L bảo H giá bán 01 hộp ma túy loại 05 gam là 3.200.000đồng; 10 viên ma túy ngựa là 1.000.000đồng và hẹn giao ma túy tại khu vực đường Đ thuộc phường T, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội. Khoảng 17h30 phút cùng ngày L điều khiển xe ô tô đến điểm hẹn. Khi gặp H, L lấy 01 hộp ma túy và 01 túi nilon chứa 10 viên ma túy ngựa định đưa cho H nhưng chưa kịp đưa thì bị tổ công tác kiểm tra bắt giữ, đối tượng H bỏ chạy thoát. Tiếp tục kiểm tra xe ô tô Mazda của L tổ công tác còn thu giữ 02 túi nilon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng L khai là ma túy mua về để bán lại cho khách có nhu cầu.
Đối với đối tượng H là người mua ma túy của L (như L khai) sử dụng số điện thoại 034.611.6710, quá trình điều tra xác định chủ thuê bao đứng tên ông Nguyễn Thanh H. Xác minh tại Công an phường Đ xác định tại địa chỉ phường Đ, Thanh Xuân không có công dân nào tên là Nguyễn Thanh H cư trú và sinh sống nên cơ quan điều không có căn cứ để xử lý.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho L quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với xe ô tô nhãn hiệu Mazda CX-5 gắn biển kiểm soát 30G-274.90 quá trình điều tra xác định chủ xe là Bùi Phi L. L khai mua và đăng ký chiếc xe trên nhưng do không có nhu cầu sử dụng nên ngày 28 tháng 7 năm 2020, L đã bán chiếc xe trên cho ông Nguyễn Sỹ T là cậu ruột của L. Ngày 16 tháng 8 năm 2020, ông T cho L mượn chiếc xe trên để đi lại. Việc L sử dụng chiếc xe trên để đi bán ma túy ông T không biết. Ngày 10 tháng 9 năm 2020, cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 109 tiến hành trao trả chiếc xe trên cho ông T. Sau khi nhận lại xe, ông T không có yêu cầu đề nghị gì.
Tại Cơ quan điều tra, L khai nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình như trên.
Bản Cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 21/12/2020 của Viện kiểm sát nhân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Bùi Phi L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân của bị cáo đã kết luận, giữ quan điểm như cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điểm i Khoản 2 Điều 251, Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 10 đến 11 năm tù giam. Vật chứng: Tịch thu xung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5; Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Bùi Phi L, Nguyễn Văn T, giám định viên Trần Ngọc C; 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Bùi Phi L, Nguyễn Văn T, giám định viên Nguyễn Văn H và 02 sim số 1: 096.878.XX45, sim số 2: 096.575.XX28.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm pháp quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 17 tháng 8 năm 2020, tại khu vực đường Đ thuộc phường T, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội, Bùi Phi L đã có hành vi cất giấu 15,720 gam Methamphetamine mục đích để bán kiếm lời. Khi L đang giao dịch bán 9,820 gam ma túy loại Methamphetamine cho đối tượng không quen biết thì bị tổ công tác công an phường T bắt quả tang cùng vật chứng.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu 3 lần đi cai nghiện bắt buộc, tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma túy, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội mà vẫn thực hiện do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được thể hiện ở mục đích phạm tội, khối lượng, loại ma túy mà bị cáo mua bán, căn cứ vào nhân thân và tình tiết giảm nhẹ của bị cáo thì phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
Xử lý vật chứng: Tịch thu xung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5; Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Bùi Phi L, Nguyễn Văn T, giám định viên Trần Ngọc C; 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Bùi Phi L, Nguyễn Văn T, giám định viên Nguyễn Văn H và 02 sim số 1: 096.878.XX45, sim số 2: 096.575.XX28 theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với vụ án: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Bùi Phi L từ 10 đến 11 năm tù, là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào Điểm i Khoản 2 Điều 251, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điểm a Khoản 2 Điều 106 và các Điều 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Tuyên bố bị cáo Bùi Phi L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý"
- Xử phạt bị cáo Bùi Phi L 09(chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/8/2020.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu xung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5; Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Bùi Phi L, Nguyễn Văn T, giám định viên Trần Ngọc C; 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Bùi Phi L, Nguyễn Văn T, giám định viên Nguyễn Văn H và 02 sim số 1: 096.878.XX45, sim số 2: 096.575.XX28. Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm theo Biên bản giao vật chứng số 89 ngày 24/12/2020.
- Về án phí: Bị cáo L phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận Nam Từ Liêm; - VKSNDTP Hà Nội; - TAND TP Hà Nội; - Công an quận Nam Từ Liêm; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm; - Bộ phận Thi hành án HS Tòa án ND quận Nam Từ Liêm; - Trại tạm giam số 1 - CAHN; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lý Kế Hiền |