vanban.org

Bản án 03/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 06/01/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn Q 06 (Sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 02 (Hai) năm tù của bản án số 35/2019/HS – ST ngày 05/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện CĐ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là: 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 BLHS - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNHBÀRỊA–VŨNGTÀU
Bản án số: 03/2021/HS-ST
Ngày: 06/01/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒAÁNNHÂNDÂNHUYỆNXM,TỈNHBÀRỊA–VŨNGTÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thảo.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Đức Vinh.

Bà Trịnh Thị Mai H.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Thùy – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện XM tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Thanh Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 116/2020/HSST ngày 24 tháng 11 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2020/QĐXXST - HS ngày 24 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1960 tại Quảng Trị;

HKTT: Ấp 3B, xã BL, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Trần Thị N, sinh năm: 1932; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị G, sinh năm: 1960, có 05 con, lớn nhất sinh năm 1984 N nhất sinh năm 1997;

Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 05/4/2019 bị Tòa án nhân dân huyện CĐ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt về tội “Đánh bạc”, mức án 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm theo bản án số 35/2019/HS – ST ngày 05/4/2019.

Bị cáo được tại ngoại: Áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

“Bị cáo có măt”.

Người có Q lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Hoàng Kim T, sinh năm: 1957; nơi cư trú: Ấp 3 B, xã BL, huyện XM, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “vắng măt”.

2. Bà Nguyễn Thị Thiên TH, sinh năm: 1983; nơi cư trú: Ấp 3 B, xã BL, huyện XM, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “vắng măt”.

3. Ông Nguyễn Trường S, sinh năm: 1988; nơi cư trú: Ấp 2 Đ, xã BL, huyện XM, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “có măt”.

4. Ông Nguyễn Đăng Quốc P, sinh năm: 1977; nơi cư trú: Ấp 3, xã BL, huyện XM, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu “có măt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ, ngày 03/07/2020, Nguyễn Văn Q cùng với Hoàng Kim T ngồi uống cà phê tại ấp 3, xã BL, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Sau đó, T rủ Q qua nhà Nguyễn Đăng Quốc P ở cùng ấp chơi. Lúc này, có Nguyễn Thị Thiên TH, Nguyễn Trường S đang ngồi chơi tại nhà P. Tại đây, cả nhóm rủ nhau đánh bạc thắng thua bằng tiền, bằng hình thức đánh bài phỏm. Cụ thể hình thức chơi bài phỏm gồm có 4 người chơi, sử dụng bộ bài tây, 52 lá, làm cái quay vòng, chia bài mỗi người 9 quân bài, người làm cái được chia 10 quân bài và đánh trước; Cứ phỏm từ 3 quân giống nhau, hoăc từ 3 quân đồng chất liên tục (nước cơ, rô, chuồn, bích) trở lên thành phỏm, ghép hết bài trên tay thành phỏm gọi là ù, các quân không ghép được thành phỏm thì tính điểm, ai ít điểm nhất sẽ thắng. Q mang theo 300.000đ, Hoàng Kim T có 420.000đ, Nguyễn Thị Thiên TH 500.000đ và Nguyễn Trường S mang theo 500.000đ để cùng tham gia đánh bạc. Trước khi chơi, 04 người tự bỏ ra 120.000đ trước, mua bài chơi và mua nước uống. Đến khoảng 13 giờ 24 phút, cùng ngày thì thì bị Công an bắt quả tang thu giữ tại chiếu bạc là 1.350.000đ, thu giữ trong người Q 250.000đ là tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc. Tổng cộng 1.600.000đ.

Vật chứng thu giữ: 01 bộ bài tây 52 lá, 01 cái chăn bằng vải màu đỏ, có họa tiết đường viền màu đen, kích thước 195cm x 155cm và 1.600.000đ. Số tiền và vật chứng trên Cơ quan điều tra đang tạm giữ chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện XM chờ xử lý.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố.

Người có Q lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Đăng Quốc P và Nguyễn Trường S trình bày phù hợp với lời trình bày của bị cáo cũng như phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ.

Bản cáo trạng số 120/CT-VKS-XM ngày 23/11/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện XM truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015.

Kiểm sát viên thực hành Q công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 để tổng hợp hình phạt của bản án số 35/2019/HS – ST ngày 05/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện CĐ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (05/4/2019).

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Nguyễn Văn Q nói lời sau cùng: Bản thân bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhe hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định truy tố: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện XM, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện XM, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm Q, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoăc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đối chiếu với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và những người tham gia tố tụng khác cũng như những tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ là phù hợp. Theo đó xác định được rằng:

Khoảng 13 giờ 24 phút, ngày 03/7/2020 tại nhà của Nguyễn Đăng Quốc P thuộc ấp 3, xã BL, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Nguyễn Văn Q, Hoàng Kim T, Nguyễn Thị Thiên H và Nguyễn Trường S cùng nhau đánh bài phỏm được thua bằng tiền thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang. Kết quả điều tra chứng minh được số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 1.600.000đ. Bị cáo Nguyễn Văn Q đã bị kết án về tội “Đánh bạc”, đang chấp hành án nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc.

Do đó, hành vi của bị cáo nêu trên có đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Từ đó cho thấy bản cáo trạng số 120/CT-VKS ngày 23 tháng 11 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện XM truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến nền trật tự trị an tại địa pH. Bị cáo muốn có tiền tiêu xài nhanh chóng mà không phải lao động nên bị cáo đã sát phạt để thu lợi bất chính. Hành vi đánh bạc còn có thể là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội cũng như nhiều tội phạm khác. Bị cáo đã bị kết án về tội “Đánh bạc”, cụ thể bản án số 35/2019/HS – ST ngày 05/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện CĐ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (05/4/2019), nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học sửa đổi bản thân mà tiếp tục phạm tội khi chưa chấp hành xong bản án trước đó, thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Hội đồng xét xử xét thấy, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội lần này (ngày 03/7/2020), bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 04 năm của bản án số: 35/2019/HS – ST ngày 05/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện CĐ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Do đó, cần chuyển 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo bằng 02 năm tù, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án theo quy định tại Điều 56, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng năng: Bị cáo không có tình tiết tăng năng.

Về tình tiết giảm nhe: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để cân nhắc giảm nhe một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo có nghề ngiệp và thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với số tiền 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng) đã thu giữ. Trong đó, 1.350.000đ thu giữ tại chiếu bạc và số tiền 250.000đ của bị cáo là tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc nên cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.

Đối với 01 bộ bài tây 52 lá; 01 cái chăn bằng vải màu đỏ, có họa tiết đường viền màu đen, kích thước 195 cm x 155 cm là công cụ sử dụng để đánh bạc và có giá trị không lớn nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với Hoàng Kim T, Nguyễn Thị Thiên TH, Nguyễn Trường S tham gia đánh bạc; Nguyễn Đăng Quốc P cho mượn chăn, địa điểm để các con bạc tham gia đánh bạc nhưng không vì mục đích thu tiền xâu. Số tiền tham gia đánh bạc dưới 5.000.000đ chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc, hay gá bạc nên T, S, TH và P không phạm tội. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện XM đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với T, S và TH là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn Q 06 (Sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 02 (Hai) năm tù của bản án số 35/2019/HS – ST ngày 05/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện CĐ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là: 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tây 52 lá; 01 cái chăn bằng vải màu đỏ, có họa tiết đường viền màu đen, kích thước 195 cm x 155 cm.

- Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 1.600.000đ (Một triệu sáu trăm nghìn đồng).

(Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện XM đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/11/2020 giữa Công an huyện XM và Chi cục Thi hành án dân sự huyện XM).

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có Q thỏa thuận thi hành án, Q yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoăc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo, người có Q lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có măt tại phiên tòa có Q kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng măt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoăc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ