- Tranh chấp gì? án hình sự — "trang tru trai phep chat ma tuy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN VŨ QUANG TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2021/HS-ST Ngày 09 - 3 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nghiêm Khắc Cẩn
Các hội thẩm nhân dân:
Ông:
Nguyễn Đình Lý
Ông:
Lê Xuân Khanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Song Hào – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Phan Quốc Tài - Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 3 năm 2021, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh H đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2021/TLST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2021/QĐXXST-HS, ngày 23 tháng 02 năm 2021 đối với:
Bị cáo: Nguyễn Mạnh H1 - Sinh ngày: 21/11/1996; nơi cư trú: Tổ dân phố 2, thị trấn V, huyện V, Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Xuân H2 và bà Lê Thị T; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Chưa. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ, tạm giam” từ ngày 29/12/2020 tại Trại giam Công an tỉnh H cho đến nay (có mặt tại phiên tòa)
Bị cáo: Lê Hải B- Sinh ngày: 23/3/1999; nơi cư trú: Tổ dân phố 1, thị trấn V, huyện V, Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hải V và bà Lê Thị Th1; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ, tạm giam” từ ngày 29/12/2020 tại Trại giam Công an tỉnh H đến nay (có mặt tại phiên tòa)
Bị cáo: Phạm Thái S1 - Sinh ngày: 16/9/1996; nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện V, Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn Q1 và bà Nguyễn Thị Q2; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Chưa. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ, tạm giam” từ ngày 29/12/2020 tại Trại giam Công an tỉnh H cho đến nay (có mặt tại phiên tòa)
Bị cáo: Phan Văn Q3 - Sinh ngày: 20/7/1997; nơi cư trú: Tổ dân phố 2, thị trấn V, huyện V, Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn S2 và bà Trần Thị Th2; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ, tạm giam” từ ngày 29/12/2020 tại Trại giam Công an tỉnh H đến nay (có mặt tại phiên tòa)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Phan Văn Ch – Sinh năm: 1999
Địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn V, huyện V, tỉnh H (có mặt)
+ Anh Nguyễn Tiến L1 – Sinh năm 2001
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện V, tỉnh H (vắng mặt không lý do)
+ Anh Lê Hải V – Sinh năm: 1971
Địa chỉ: Tổ dân phố 1, thị trấn V, huyện V, tỉnh H (có mặt)
+ Anh Nguyễn Quang Th3– Sinh năm 1995
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện V, tỉnh H (vắng mặt không lý do)
+ Anh Phạm Văn T – Sinh năm 1977
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện V, tỉnh H (có mặt)
+ Anh Nguyễn Xuân H2 – Sinh năm: 1963
Địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn V, huyện V, tỉnh H (có mặt)
- Người làm chứng:
+ Anh Lê Văn H3 – Sinh năm: 1995
Địa chỉ: Tổ Dân Phố 3, thị Trấn V, huyện V, tỉnh H (có mặt)
+ Anh Nguyễn Tuấn L2 – Sinh năm: 1991
Địa chỉ: Tổ dân phố 4, thị trấn V, huyện V, tỉnh H (vắng mặt không lý do)
+ Anh Nguyễn Huy H4 – Sinh năm 1996
Địa chỉ: Thôn Hợp Lợi, xã H, huyện V, tỉnh H (vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 28/12/2020, tại quán Karaoke Hải Quân ở tổ dân phố 5, thị trấn V, huyện V, tỉnh H, Nguyễn Mạnh H1 rủ Phạm Thái S1 đưa tiền để H1 mua ma túy sử dụng chung, S1 đồng ý và đưa cho H1 500.000 đồng. Sau khi lấy tiền từ Phạm Thái S1 thì Nguyễn Mạnh H1 nói S1 đi đến cầu Ngàn Trươi ở tổ dân phố 1, thị trấn V đứng chờ, còn H1 nhờ anh Nguyễn Huy H4 chở đến cây xăng đường mòn Hồ Chí Minh ở tổ dân phố 3 thị trấn V, huyện V. Đến nơi, Nguyễn Mạnh H1 nói anh H4 chờ, còn H1 đi bộ lại khu vực trước quán cà phê Khoảng Lặng để mua ma túy.
Cũng trong khoảng thời gian này, tại nhà anh Lê Văn H3 ở tổ dân phố 1, thị trấn V, huyện V, Lê Hải B rủ Phan Văn Q1 góp tiền mua ma túy sử dụng chung thì được Q1 đồng ý và đưa góp 200.000 đồng cho B, còn B cũng bỏ ra 200.000 đồng góp để mua ma túy sử dụng chung. Sau đó, Lê Hải B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Fuctuner, Biển kiểm soát 38E1-031.57 đi lên khu vực trước quán cà phê Khoảng Lặng để mua ma túy thì thấy Nguyễn Mạnh H1 đang đứng một mình ở đó. Nhìn thấy Lê Hải B thì Nguyễn Mạnh H1 gọi B lại rủ cùng sử dụng ma túy, B đồng ý và đưa cho H1 số tiền 400.000 đồng rồi nói số tiền này là do B và Phan Văn Q1 góp. Sau khi lấy tiền từ B xong, H1 đưa lại cho B 50.000 đồng để đưa cho Phan Văn Q1 rồi nói với Lê Hải B đi lên đập Ngàn Trươi chờ. Sau đó, Lê Hải B đi gặp Phan Văn Q1 nói về việc đã đưa tiền cho Nguyễn Mạnh H1 mua ma túy để sử dụng chung và địa điểm hẹn gặp để sử dụng, đồng thời trả lại cho Phan Văn Q1 50.000 đồng thì được Phan Văn Q1 đồng ý. Còn Nguyễn Mạnh H1 đứng trước quán cà phê Khoảng Lặng gặp một người đàn ông không xác định được tên tuổi, địa chỉ và đã mua của người đàn ông này 05 viên ma túy màu hồng để trong túi nilon màu đen rồi lấy 850.000 đồng (do Phạm Thái S1, Lê Hải B, Phan Văn Q1 góp mua ma túy sử dụng) trả cho người đàn ông nói trên. Sau đó, H1 quay trở lại chỗ anh Nguyễn Huy H4 đang đứng chờ và nhờ anh H4 tiếp tục chở đến khu vực cổng đập Ngàn Trươi. Đến nơi anh H4 đi về, còn H1 đi bộ lên phía trên đập Ngàn Trươi gặp Phạm Thái S1 đang đứng chờ, lúc đó thì Lê Hải B và Phan Văn Q1 cũng đi đến điểm hẹn. Tiếp đó, cả 04 người rủ nhau đi lên phía khu vực rừng tràm trên đập Ngàn Trươi để sử dụng ma túy, tại đây Phan Văn Q1 đưa cho Nguyễn Mạnh H1 01 chai nhựa có lổ thủng, Nguyễn Mạnh H1 cầm chai nhựa rồi nhặt 01 mảnh giấy thiếc màu vàng, quấn mảnh giấy thiếc lại thành ống đốt cắm vào lỗ thủng ống nhựa rồi cả 04 người ngồi xuống để sử dụng ma túy. Nguyễn Mạnh H1 lấy 01 viên ma túy trong 05 viên ma túy Hồng phiến mới mua ra bỏ vào ống giấy thiếc rồi dùng bật lửa mang theo sẵn đốt cho cả 04 người thay nhau sử dụng. Đến khoảng 00 giờ 10 phút ngày 29/12/2020 khi Nguyễn Mạnh H1, Phạm Thái S1, Lê Hải B, Phan Văn Q1 đang sử dụng ma túy thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện V bắt quả tang và thu giữ vật chứng gồm: 01 gói nilong màu đen bên trong có 04 viên nén màu hồng; 01 chiếc bật lửa ga; 01 chai nhựa không có nắp; 02 mảnh giấy thiếc; 01 mẫu nilon; 01 điện thoại di động Iphone 6 màu bạc; 01 điện thoại Iphone 7 màu đen; 01 điện thoại Iphone 11 Promax màu vàng; 01 điện thoại OPPO A71 màu đen; 01 xe mô tô Yamaha Sirius Biển kiểm soát 38E1-069.87; 01 xe mô tô nhãn hiệu Ecxiter, Biển kiểm soát 38E1-029.86; 01 xe mô tô nhãn hiệu Fuctuner, Biển kiểm soát 38E1-031.57 và số tiền 270.000 đồng.
Bản kết luận giám định số 24/GDDMT-PC09 ngày 30/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H kết luận: 04 viên nén màu hồng gửi giám định là ma túy, là Methamphetamine, có khối lượng 0,4041gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II.C, STT 323 Nghị định 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Đối với vật chứng thu giữ:
- 04 viên nén màu hồng có khối lượng 0,4041gam, sau khi đã lấy mẫu giám định 02 viên có khối lượng 0,2023 gam không hoàn lại mẫu, còn 02 viên nén màu hồng có khối lượng 0,2018 gam Methamphetamine bỏ trong 01 chiếc phong bì được niêm phong; 01 chai nhựa, có chiều dài 19 cm, không có nắp, có 01 lỗ hình tròn cách đáy chai 06 cm, trên miệng chai có đai màu đen; 02 mảnh giấy thiếc một mặt màu vàng, mặt còn lại màu trắng không rõ hình dạng; 01 mẫu nilon màu đen, không rõ hình dạng, kích thước; 01 bật lửa ga có vỏ bằng nhựa, trong suốt, trên thân bật lửa có dòng chữ Hoa Việt, có hình ảnh một chiếc điện thoại và hình một quả táo, phía nút đánh lửa màu cam; số tiền 270.000 đồng (01 tờ tiền polime mệnh giá 200.000 đồng, 01 tờ tiền polime mệnh giá 50.000 đồng, 01 tờ tiền polime mệnh giá 20.000 đồng) đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện V chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện V để xử lý.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA –EXITER, màu xanh – trắng, BKS 38E1-029.86, số khung RLCE55P10DY347220, số máy 55P1347232; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA – FUTUNER, màu đỏ, BKS 38E1-031.57, số khung: RLHJC5354DY044722, số máy: JC54E1070166; 01xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA- SIRIUS, màu xám - đen, BKS 38E1- 069.87, số khung: RLCUE3240KY232410, số máy: E3X9E631762; 01 điện thoại Iphone 6 màu bạc, vỏ bọc điện thoại màu đen, số máy: MQ3D2KH/A số seri: FFPTQK54HXR5, số IMEI: 35668108601146; 01 điện thoại Iphone 7 màu đen, số máy: MN962VN/A, số seri: DNPSR982HG7P, số IMEU: 355322080225310; 01 điện thoại OPPO A71, màu đen, số IMEI1: 867760033169013, số IMEI2: 867760033169005; 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max, màu vàng,số máy: MWFC2LL/A, số seri: FCLZP35JN70F, số IMEI: 353903107050872 đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã trả lại cho chủ sở hữu.
Đối với Nguyễn Mạnh H1, Lê Hải B có hành vi rủ Phạm Thái S1, Phan Văn Q1 sử dụng trái phép chất ma túy nhưng Phạm Thái S1 và Phan Văn Q1 đều đã từng sử dụng ma túy với Nguyễn Mạnh H1 và Lê Hải B nên hành vi của Nguyễn Mạnh H1 và Lê Hải B không cấu thành tội “Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 258 Bộ luật hình sự.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Mạnh H1, do không rõ thông tin nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ.
Đối với anh Nguyễn Huy H4 là người chở Nguyễn Mạnh H1 nhưng không biết H1 đi mua ma túy nên không cấu thành tội phạm.
Đối với anh Nguyễn Tiến L1, anh Phan Văn Ch và anh Lê Hải V cho Phạm Thái S1, Phan Văn Q1 và Lê Hải B1 mượn xe mô tô nhưng không biết các bị cáo đi mua ma túy sử dụng nên cơ quan CSĐT Công an huyện V không xử lý trách nhiệm.
Cáo trạng số 03/CT-VKS-VQ ngày 01/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh H truy tố các bị cáo Nguyễn Mạnh H1, Phạm Thái S1, Lê Hải B và Phan Văn Q1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi của mình như cáo trạng truy tố; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khai phù hợp với lời khai trong hồ sơ vụ án, không có thay đổi, bổ sung hay yêu cầu gì thêm; người làm chứng có mặt tại phiên tòa khai phù hợp với lời khai trong hồ sơ vụ án, không có thay đổi hay bổ gì thêm. Bị cáo Phan Văn Q1 đề nghị Tòa trả lại số tiền 270.000 đồng thu của mình.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử như sau: Tuyên bố Nguyễn Mạnh H1, Phạm Thái S1, Lê Hải B và Phan Văn Q1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Mạnh H1, Phạm Thái S1 mỗi bị cáo từ 13 đến 15 tháng tù và xử phạt Lê Hải B, Phan Văn Q1 mỗi bị cáo từ 12 đến 14 tháng tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; đề nghị tịch thu, tiêu hủy 02 viên nén màu hồng có khối lượng 0,2018 gam Methamphetamine, 01 chai nhựa, 02 mảnh giấy thiếc, 01 mẫu nilon màu đen và 01 bật lửa ga có vỏ bằng nhựa; đề nghị trả lại số tiền 270.000 đồng cho Phan Văn Q1; đề nghị buộc mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì đưa ra tranh luận.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng xin Tòa án giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân
dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng tuân thủ quy định của pháp luật. Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều hợp pháp.
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với nội dung cáo trạng truy tố, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác cũng như tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 23 giờ ngày 28/12/2020, Nguyễn Mạnh H1 đi đến khu vực trước quán cà phê Khoảng Lặng thuộc tổ dân phố 3 thị trấn V mua của một người đàn ông không xác định được tên tuổi, địa chỉ 05 viên nén màu hồng với số tiền 850.000 đồng do Phạm Thái S1 góp 500.000 đồng, Lê Hải B góp 200.000 đồng và Phan Văn Q1 góp 150.000 đồng đưa cho H1 mua ma túy sử dụng chung. Sau khi mua ma túy xong, H1 cùng B, S1 và Q1 đưa số ma túy nói trên đến khu vực đập Ngàn Trươi – Cẩm Trang thuộc địa phận tổ dân phố 1, thị trấn V, huyện V, tỉnh H sử dụng hết 01 viên nén màu hồng. Đến 00 giờ 10 phút ngày 29/12/2020, trong lúc Nguyễn Mạnh H1, Lê Hải B, Phạm Thái S1, Phan Văn Q1 chuẩn bị sử dụng số viên nén màu hồng còn lại thì bị lực lượng Cơ quan CSĐT Công an huyện V bắt quả tang thu giữ 04 viên nén màu hồng.
Bản kết luận giám định số 24/GDDMT-PC09 ngày 30/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H kết luận: 04 viên nén màu hồng gửi giám định là ma túy, là Methamphetamine, có khối lượng 0,4041gam.
Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử kết luận Nguyễn Mạnh H1, Lê Hải B, Phạm Thái S1 và Phan Văn Q1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Đối với Nguyễn Mạnh H1, Lê Hải B tuy có hành vi rủ Phạm Thái S1, Phan Văn Q1 sử dụng trái phép chất ma túy nhưng S1, Q1, H1 và M đều đã từng sử dụng ma túy với nhau nên Cơ quan CSĐT Công an huyện V không xử lý Nguyễn Mạnh H1 và Lê Hải B về hành vi “Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy” là có cở sở.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Mạnh H1 thì Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã xác minh nhưng do không có đủ thông tin nên không xác định được.
Đối với anh Nguyễn Huy H4 không biết Nguyễn Mạnh H1 nhờ mình chở đi là để mua ma túy nên Cơ quan CSĐT Công an huyện V không xử lý trách nhiệm là có căn cứ.
Đối với anh Nguyễn Tiến L1, anh Phan Văn Ch và anh Lê Hải V không biết Phạm Thái S1, Phan Văn Q1 và Lê Hải B mượn xe mô tô để đi mua ma túy sử dụng nên cơ quan CSĐT Công an huyện V không xử lý trách nhiệm là có căn cứ.
Xét đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy mà còn ảnh hưởng đến an toàn, trật tự trên địa bàn. Vì vậy, cần lên một mức án đủ nghiêm tương xứng với tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như hoàn cảnh gia đình của bị cáo.
[4] Xét các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo” quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của BLHS. Đối với Nguyễn Mạnh H1 có cha đẻ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Quốc tế giúp cách mạng Căm pu chia được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương hạng ba; Phạm Thái S1 có cha đẻ là thương binh được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương hạng ba; Lê Hải B có ông nội tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước được Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân chương hạng nhất; Phan Văn Q1 có ông nội là thương binh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước và bản thân bị cáo cũng có nhiều thành tích được khen thưởng trong thời gian đi nghĩa vụ quân sự nên được hưởng thêm tình tiết giảm quy định tại Khoản 2 Điều 51 của BLHS.
Xét vai trò của từng bị cáo, Hội đồng xét xử thấy vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó Nguyễn Mạnh H1 là người khởi xướng việc mua ma túy để sử dụng chung và trực tiếp đi mua ma túy nên giữ vai trò chính, Phạm Thái S1 có số tiền góp mua ma túy nhiều nhất nên có vai trò gần tương đương với Nguyễn Mạnh H1. Còn Lê Hải B, Phan Văn Q1 có số tiền góp mua ma túy ít hơn nên có vai trò thấp hơn và tương đương nhau.
Qua xem xét toàn diện các tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử thấy các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu và đều sinh ra trong gia đình có công với cách mạnh nên xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H1 và Phạm Thái S1 mỗi bị cáo 13 tháng tù; Lê Hải B và Phan Văn Q1 mỗi bị cáo 12 tháng tù như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 04 viên nén màu hồng là Methamphetamine có khối lượng 0,4041gam, sau khi đã lấy mẫu giám định 02 viên không hoàn lại mẫu, còn lại 02 viên có khối lượng 0,2018 gam Methamphetamine là vật nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với 01 chai nhựa; 02 mảnh giấy thiếc; 01 mẫu nilon; 01 bật lửa ga là công cụ phạm tội, không có giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với số tiền 270.000 đồng thu của Phan Văn Q1 không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA –EXITER, BKS 38E1- 029.86 Phạm Thái S1 mượn của anh Nguyễn Tiến L1; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA – FUTUNER, BKS 38E1-031.57 Lê Hải B mượn của bố là Lê Hải V; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA- SIRIUS, BKS 38E1- 069.87 Phan Văn Q1 mượn của anh Phan Văn Ch thì khi cho mượn xe mô tô anh L1, anh V và anh Ch đều không biết các bị cáo sử dụng phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã trả lại cho chủ sở hữu là có cơ sở. Đối với 01 điện thoại Iphone 6 màu bạc; 01 điện thoại Iphone 7 màu đen; 01 điện thoại OPPO A71, màu đen; 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max, màu vàng thu giữ của các bị cáo nhưng các bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng pháp luật.
Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh H1, Phạm Thái S1, Lê Hải B và Phan Văn Q1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt Nguyễn Mạnh H1 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 29/12/2020)
- Xử phạt Phạm Thái S1 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 29/12/2020)
- Xử phạt Lê Hải B 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 29/12/2020)
- Xử phạt Phan Văn Q1 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 29/12/2020).
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c Khoản 2, Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:
Tịch thu và tiêu hủy 02 viên nén màu hồng có khối lượng 0,2018 gam Methamphetamine; 01 chai nhựa; 02 mảnh giấy thiếc; 01 mẫu nilon; 01 bật lửa ga.
Trả lại cho bị cáo Phan Văn Q1 số tiền 270.000đ (hai trăm bảy mươi ngàn đồng)
Đặc điểm vật chứng nói trên có tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/02/2021 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V.
Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 21 và Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc Nguyễn Mạnh H1, Phạm Thái S1, Lê Hải B và Phan Văn Q1 mỗi bị cáo nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh; - Viện kiểm sát; - Công an; - Trại tạm giam; - Chi cục THADS; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu HS-VP. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thành viên Hội đồng xét xử Nguyễn Đình Lý Lê Xuân Khanh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nghiêm Khắc Cẩn Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa Nghiêm Khắc Cẩn |