- Tranh chấp gì? án hình sự — "Luân Văn Q và Đinh Công M - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đinh Công M, Luân Văn Q phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2021/HS-ST Ngày 26 - 01 - 2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bẩy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Quy;
Bà Hoàng Thị Tuyên.
- Thư ký phiên toà: Ông Triệu Tuấn Bình - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Lộc Nam Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 01 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 01/2021/TLST-HS, ngày 11 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 01 năm 2021, của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đối với các bị cáo:
1. Đinh Công M, sinh ngày 22 tháng 01 năm 1991, tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá lớp 06/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn T (đã chết) và bà Bế Thị M; vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính; hiện bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tràng Định, thời gian tạm giam tính từ ngày tạm giữ 23/10/2020 đến nay, có mặt.
2. Luân Văn Q, sinh ngày 23 tháng 6 năm 1988, tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá lớp 10/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Luân Văn D và bà Chu Thị P; vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính; hiện bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tràng Định, thời gian tạm giam tính từ ngày tạm giữ 23/10/2020 đến nay, có mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Hà Duy B, sinh năm 1984, vắng mặt.
2. Anh Chu Thanh N, sinh năm 1989, vắng mặt.
3. Anh Hoàng A, sinh năm 1996, vắng mặt.
4. Anh Chu Văn H, sinh năm 1977, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 30 phút ngày 23/10/2020, lực lượng Công an xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn đang làm nhiệm vụ tại thôn N, xã Đ phát hiện bắt quả tang Luân Văn Q về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần bò phía trước bên phải đang mặc một hộp nhựa màu trắng, bên trong có 21 gói giấy màu trắng, có dòng kẻ, trong các gói giấy đều chứa chất bột màu trắng Q khai nhận là ma túy Heroine, nguồn gốc là do Đinh Công M đưa cho đi bán cho người nghiện và được sử dụng cho bản thân. Thu giữ một điện thoại Sam sung và số tiền 150.000 đồng. Khám xét nơi ở của Luân Văn Q thu giữ 16 mảnh giấy trắng có dòng kẻ được gói trong tờ giấy trắng có dòng kẻ; khám xét nơi ở của Đinh Công M thu giữ hai cục chất bột màu trắng trong túi nilon màu đen và được bọc một lớp giấy màu trắng bên ngoài, giấu trong ống che mái chuồng lợn nhà M; thu của M một điện thoại di động đã cũ, một số tang vật và số tiền 2.100.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định: Do cả Đinh Công M và Luân Văn Q đều không có việc làm ổn định và là người nghiện ma túy Heroine, nên Đinh Công M đã rủ Luân Văn Q và M bỏ tiền ra cùng Q nhiều lần xuống đồi Bạch Đàn thuộc Cửa khẩu T, huyện V mua ma túy với một người không biết tên, tuổi, mang về chia nhỏ vừa để bản thân sử dụng, vừa bán cho những người nghiện khác kiếm lời, cụ thể như sau:
Lần 1: Khoảng 9 giờ, ngày 17/10/2020, cả hai đi mua, Đinh Công M là người trực tiếp mua một gói ma túy Heroine với giá 4.000.000 đồng, M chia một nửa thành 21 gói nhỏ, đưa cho Q đi bán, nửa còn lại M mang về nhà cất giấu. Luân Văn Q bán 14 gói được là 2.500.000 đồng và đưa lại cho M, số ma túy còn lại Q dùng hết. Ngày 18/10/2020, Q mang số tiền bán được đưa cho M, M lại đưa 21 gói nhỏ và đưa cho Q đi bán, Q bán 14 gói được 2.500.000 đồng, số ma túy còn lại Q sử dụng hết. Lần 2: Ngày 19/10/2020, Q đem số tiền 2.500.000 đồng bán ngày hôm trước đưa cho M, cùng với M đi mua một gói ma túy giá 4.500.000 đồng, M trực tiếp chia một nửa số ma túy thành 21 gói nhỏ đưa cho Q đi bán, Q đã bán 14 gói nhỏ với giá nêu trên được 2.500.000 đồng nửa còn lại M đem về cất giấu. Ngày 20/10/2020, sau khi bán hết, Q lại mang số tiền 2.500.000 đồng đưa cho M, M lại đưa 21 gói nhỏ ma túy cho Q đi bán và Q lại bán 14 gói được 2.500.000 đồng, còn lại 7 gói Q sử dụng cho cá nhân hết. Số tiền bán được Q đưa cho M ngày 21/10/2020.
Những lần mua về và bán này, Q không nhớ đã bán cho những ai.
Lần 3: Ngày 21/10/2020, Q và M tiếp tục đi xe khách xuống Cửa khẩu T và M trực tiếp mua một gói ma túy với giá 4.500.000 đồng. Sau khi mua được về, cả hai ra khu đồi phía sau nhà M lấy một ít chia ra làm 08 gói nhỏ và Q mang đi bán 05 gói ma túy cho những người sau: Bán cho Hà Duy B vào 9 giờ ngày 22/10/2020 một gói với giá 200.000 đồng; 9 giờ 30 phút cùng ngày bán cho Hoàng A hai gói giá 400.000 đồng; 16 giờ cùng ngày bán cho Chu Thanh N một gói giá 200.000 đồng; 22 giờ cùng ngày bán cho Lý Văn N một gói giá 200.000 đồng, còn ba gói Q tự sử dụng hết.
Ngày 23/10/2020 cả hai hẹn nhau ra đồi phía sau nhà M, Q đưa cho M 2.100.000 đồng (gồm 1.000.000 đồng tiền bán ma túy và 1.100.000 đồng tiền Q vay bạn bè) để cùng đi mua về bán và sử dụng. Sau đó M lấy số ma túy còn ngày 21/10/2020 chia ra làm 2 phần, một phần chia làm 21 gói nhỏ đưa cho Q đi bán cho những người nghiện, phần còn lại M cất giấu vào ống che ở mái chuồng lợn tại nhà của M. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 23/10/2020 thì cả hai bị bắt quả tang và thu giữ tang vật.
Tại Bản kết luận giám định số 307/KL-PC09 ngày 25/10/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng có trong 21 gói giấy thu giữ của Luân Văn Q gửi giám định đều là chất ma túy Heroine, có khối lượng 1,127 gam (đã trừ bì); 02 cục chất bột màu trắng thu giữ của Đinh Công M gửi giám định là chất ma túy Heroine, có khối lượng 1,941 gam (đã trừ bì).
Tại Bản kết luận giám định số 373/KLGĐ-PC09 ngày 29/10/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận toàn bộ số tiền 2.260.000 đồng được gửi giám định đều là tiền thật do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành.
Tại Bản cáo trạng số 01/CT-VKSTĐ ngày 11/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, đã truy tố các bị cáo Đinh Công M và bị cáo Luân Văn Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng là truy tố là đúng người, đúng hành vi đã thực hiện và đúng nguồn gốc số tiền thu giữ, thừa nhận tài sản dùng vào việc phạm tội và nhất trí tịch thu.
Tại phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đinh Công M, Luân Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 17, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Đinh Công M từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù; Luân Văn Q từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy; tịch thu tài sản có giá trị do bị cáo dùng vào việc phạm tội, tịch thu toàn bộ số tiền do bị cáo phạm tội mà có và tiền dùng vào việc phạm tội, trả cho các bị cáo số tiền không dùng vào việc phạm tội; các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Phần tranh luận: Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng, các bị cáo xin được mức án nhẹ để sớm được trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng và cải tạo thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi cấu thành tội phạm của các bị cáo, thấy rằng: Lời thừa nhận thực hiện hành vi được mua bán trái phép ma túy Heroine nhiều lần cho các đối tượng nghiện và chứng M được bán trái phép 04 lần, cho 04 đối tượng nghiện chất ma túy và thu lợi bất chính số tiền 1.000.000 đồng là phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở kết luận các bị cáo Đinh Công M và Luân Văn Q đã phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa, ý kiến của các bị cáo và để có mức án phù hợp với hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, vai trò của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của người phạm tội, thấy rằng: Hành vi mà các bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng với lỗi cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, là nguyên nhân gián tiếp gây ra tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, do đó phải bị tuyên là có tội và chịu hình phạt; về vai trò của các bị cáo, thấy bị cáo M có vai trò cao hơn bị cáo Q, là người bỏ tiền và trực tiếp đi mua, chia nhỏ để bán, còn bị cáo Q tích cực trong việc đi bán cho người nghiện Heroine. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, ngoài tình tiết định khung, các bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; về nhân thân, các bị cáo là người nghiện Heroine. Trên cơ sở đánh giá này, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với hành vi đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới đủ tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Qua kết quả xác M các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, bản thân nghiện ma túy, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, tịch thu sung quỹ Nhà nước tài sản dùng vào việc phạm tội của các bị cáo; tịch thu số tiền do phạm tội mà có và dùng vào việc phạm tội, còn lại trả cho các bị cáo nhưng tạm giữ để thi hành án.
Đối với các đối tượng nghiện ma túy mua của các bị cáo đã được Công an huyện Tràng Định xử lý hành chính là đúng quy định; đối với người bán ma túy cho các bị cáo nhưng không rõ tên, địa chỉ nên không có cơ sở xem xét.
Các bị cáo là người bị kết án thì phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Công M và Luân Văn Q; áp dụng Điều 17, Điều 38, khoản 1 Điều 47, Điều 50, Điều 58; áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đinh Công M, Luân Văn Q phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
2.1. Xử phạt bị cáo Đinh Công M 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2020.
2.2. Xử phạt bị cáo Luân Văn Q 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2020.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng:
3.1. Tịch thu tiêu hủy: 01(một) phong bì đã được niêm phong thu giữ của Luân Văn Q khi bắt quả tang, bên trong có gói giấy chứa chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 1,057 gam (đã trừ bì và phần hao do giám định); 01(một) phong bì đã được niêm phong thu giữ của Đinh Công M khi khám xét chỗ ở, bên trong có gói giấy chứa chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 1,790 gam (đã trừ bì và phần hao do giám định); 16 (mười sáu) mảnh giấy trắng có dòng kẻ kích thước 02x2 cm và một túi nilon trong suốt, một hộp nhựa màu trắng.
3.2. Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước: Một điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Honor màu xanh, kèm theo 01 sim điện thoại có số thuê bao 0327718157 thu giữ của Đinh Công M và một điện thoại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Samsung Duos màu vàng đã qua sử dụng kèm theo một sim có số thuê bao 0966310149 thu giữ của Luân Văn Q.
3.3. Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 2.100.000 (hai triệu một trăm nghìn) đồng; trả lại cho bị cáo Đinh Công M số tiền 10.000 (mười nghìn) đồng; trả cho bị cáo Luân Văn Q số tiền 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng nhưng đều tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/01/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Đinh Công M và Luân Văn Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung Ngân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo Đinh Công M, Luân Văn Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn; - Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn; - Chi cục THADS huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo (qua nhà tạm giữ); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA Nguyễn Văn Bẩy |