- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Văn T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 03/2021/HS-ST Ngày 28-01-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG - TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Cư
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Chí Thanh.
Bà Bùi Thị Lý.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân Mai là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Hiền Nhỏ - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22, 28 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2020/TLST-HS ngày 10-11-2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXXST-HS ngày 08-12-2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1972. Nơi cư trú: khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đ; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Trăm, sinh năm 1938 (chết) và bà Nguyễn Thị Lài, sinh năm 1945; Vợ là Hồ Thị Kiều, sinh năm 1973; Con tên Nguyễn Thị Hồng Tươi, sinh năm 1995 và Nguyễn Chí Linh, sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: không, (có mặt).
- Bị hại: Nguyễn Văn Long, sinh năm 1984 (đã chết).
Cư trú: ấp An Lộc, xã An Phước, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện hợp pháp của bị hại:
1/ Bà Nguyễn Thị Phụng (mẹ ruột anh Long), sinh năm 1963 (có mặt);
Cư trú: khóm 2, thị trấn SaRài, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
2/ Chị Phan Thị Kim Cương (vợ anh Long), sinh năm 1984 (có mặt);
Cư trú: ấp An Lộc, xã An Phước, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
3/ Nguyễn Chí Vĩnh (con ruột anh Long), sinh ngày 23-6-2004;
- 1 -
4/ Nguyễn Thị Ngọc Hà (con ruột anh Long), sinh ngày 08-02-2008;
5/ Nguyễn Chí Thanh (con ruột anh Long), sinh ngày 16-8-2014.
Người đại diện theo pháp luật của Nguyễn Chí Vĩnh, Nguyễn Thị Ngọc Hà và Nguyễn Chí Thanh là chị Phan Thị Kim Cương, sinh năm 1984 (là mẹ ruột của Chí Vĩnh, Ngọc Hà và Chí Thanh). Cư trú: ấp An Lộc, xã An Phước, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Công Ty Cổ Phần Việt Hồng;
Địa chỉ: cụm Công nghiệp An Lộc, ấp An Lộc, xã An Bình A, thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện theo pháp luật là ông Phạm Văn Tuấn, sinh năm 1982. Cư trú: đường Lê Hồng Phong, khóm 4, phường An Thạnh, thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, chức vụ Giám đốc (có mặt).
2/ Doanh nghiệp tư nhân Hưng Thạnh;
Địa chỉ: số 84, đường Lê Lợi, khóm 2, phường An Thạnh, thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện theo pháp luật là ông Phạm Văn Tâm, sinh năm 1954. Cư trú: số 84, đường Lê Lợi, khóm 2, phường An Thạnh, thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp là chủ doanh nghiệp.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Văn Tâm là ông Phạm Văn Tuấn, sinh năm 1982. Cư trú: đường Lê Hồng Phong, khóm 4, phường An Thạnh, thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Phụng và chị Phan Thị Kim Cương là Luật sư Huỳnh Thị Quỳnh Hoa của Văn phòng Luật sư Quỳnh Hoa, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
- Người làm chứng:
1/ Trần Minh Khuần, sinh năm 1981 (có đơn xin vắng mặt);
2/ Đoàn Văn Chiến, sinh năm 1954 (vắng mặt);
3/ Trần Quang Mến, sinh năm 1986 (vắng mặt);
Cùng cư trú: ấp An Thọ, xã An Phước, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp;
4/ Đoàn Văn Nê, sinh năm 1958 (vắng mặt);
5/ Nguyễn Văn Giàu, sinh năm 1985 (vắng mặt);
Cùng cư trú: khóm Thượng 2, thị trấn Thường Thới Tiền, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
6/ Phan Văn Ngàn, sinh năm 1985 (có mặt);
Cư trú: ấp Bình Lý, xã Bình Thạnh, thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
7/ Nguyễn Dương Linh, sinh năm 1994 (vắng mặt);
Cư trú: ấp Bình Hòa, xã Thường Thới Hậu B, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- 2 -
8/ Nguyễn Bỉnh Thư, sinh năm 1960 (có mặt).
Cư trú: khóm Sở Thượng, phường An Lạc, thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 35 phút ngày 06-7-2020, Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát: 66A - 003.22 (có giấy phép lái xe theo quy định) chở anh Nguyễn Bỉnh Thư chạy trên đường ĐT842, theo hướng từ xã Phú Hiệp, huyện Tam Nông đến thị xã Hồng Ngự (nay là thành phố Hồng Ngự). Khi xe chạy đến đoạn đường cong (đường cua) thuộc ấp An Thọ, xã An Phước, huyện Tân Hồng thì từ khoảng cách khoảng 20 mét, T nhìn thấy xe mô tô 3 bánh biển kiểm soát: 60Y2 - 0469 do anh Nguyễn Văn Long điều khiển đang chạy từ trong tuyến đường nhựa (không tên) ra đường ĐT 842, khi xe anh Long đã nhập làn (xe đã vào đường ĐT 842) thì T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát: 66A - 003.22 chạy vượt lên dẫn đến va chạm vào phía sau bên trái của xe mô tô 3 bánh do anh Long điều khiển đang chạy cùng chiều, làm cả hai xe lao xuống vực phía bên phải theo chiều đi. Hậu quả: anh Long tử vong tại chỗ.
* Vật chứng của vụ án thu giữ được:
- 01 xe ô tô biển kiểm soát: 66A - 003.22, nhãn hiệu TOYOTA, số loại FORTUNER, màu trắng, dung tích xi lanh 2.694 cm3, số máy: 7145701, số khung: 4B9013054 do Doanh nghiệp tư nhân Hưng Thạnh đứng tên giấy đăng ký (Chủ Doanh nghiệp là ông Phạm Văn Tâm).
- 01 xe mô tô 3 bánh, biển kiểm soát: 60Y2 - 0469, nhãn hiệu YINXIANG, màu xanh, dung tích xi lanh 175 cm3 do anh Nguyễn Văn Long mua của người lạ không biết tên, địa chỉ.
* Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông, ngày 06-7-2020 thể hiện như sau: Hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ nằm trên tuyến đường ĐT842, mặt đường bằng phẳng được kết cấu bằng nhựa, phương tiện lưu thông hai chiều, không có vạch kẻ đường, đoạn đường tại nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường cong vòng bên trái và gần nơi giao nhau (ngã ba), mặt đường rộng: 06 mét, tầm nhìn không bị che khuất. Tại đoạn đường xảy ra tai nạn giao thông bên lề phải theo hướng Ủy ban nhân dân xã An Phước đi thị xã Hồng Ngự, tuyến đường ĐT842 giao nhau với đường nông thôn, mặt đường nông thôn được kết cấu bằng bê tông nhựa.
- Điểm va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát: 66A - 003.22 và xe mô tô 3 bánh biển kiểm soát: 60Y2 - 0469 nằm ở phần đường bên phải theo hướng từ
- 3 -
UBND xã An Phước ra thị xã Hồng Ngự và cách lề 1,58 mét (theo hướng xe của Tới và xe anh Long lưu thông).
* Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 213/TTh-TTPY ngày 06-07-2020 của Trung tâm Pháp y - Sở y tế tỉnh Đồng Tháp kết luận nguyên nhân tử vong của anh Nguyễn Văn Long do: vỡ đốt sống cổ C1-C2, đứt tủy sống/TNGT.
* Tại bản kết luận định giá trị tài sản số: 63/KL-HĐĐG ngày 14-10-2020 của Hội đồng định giá trị tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Hồng kết luận: xe ôtô nhãn hiệu TOYOTA, số loại FORTUNER, biển kiểm soát: 66A - 003.22 bị hư hỏng trị giá: 72.880.000 đồng.
* Tại bản kết luận định giá trị tài sản số: 64/KL-HĐĐG ngày 14-10-2020 của Hội đồng định giá trị tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Hồng kết luận: xe môtô (loại xe 3 bánh), biển kiểm soát: 60Y2 - 0469, nhãn hiệu YINXIANG bị hư hỏng trị giá: 310.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 21/CT-VKSTH, ngày 09-11-2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại Cơ quan điều tra đại diện hợp pháp của bị hại cho rằng nghe từ dư luận người lái xe ô tô gây tai nạn là người khác không phải bị cáo T nhưng trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm đại diện hợp pháp của bị hại không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện hợp pháp của bị hại thống nhất nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T. Còn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự thì trong quá trình điều tra và truy tố yêu cầu bồi thường tổng: 1.005.366.000 đồng, bao gồm:
1/ Chi phí mai táng 158.766.000 đồng gồm: tiền hòm, tẩm liệm, cát, đá, xi măng xây mồ mã, tiền đám.
2/ Tiền bồi thường do tổn thất về tinh thần là 149.000.000 đồng.
3/ Tiền cấp dưỡng cho 03 người con chưa thành niên của bị hại Long tổng là 357.600.000 đồng (mỗi tháng 1.490.000đồng cho mỗi cháu).
4/ Tiền xe môtô 3 bánh bị hư hỏng 40.000.000 đồng.
5/ Tiền hỗ trợ tiền nợ 300.000.000 đồng.
Nhưng tại phiên tòa sơ thẩm thay đổi yêu cầu, cụ thể: đối với chi phí mai táng và tiền bồi thường thiệt hại về tài sản (xe mô tô 3 bánh) không yêu cầu (vì đã nhận 82.000.000đồng là số tiền bồi thường của Công ty cổ phần Việt Hồng) còn tiền hỗ trợ trả nợ là không yêu cầu. Như vậy, chỉ còn yêu cầu bị cáo T và Công ty cổ phần Việt Hồng liên đới bồi thường tổng cộng 280.000.000đồng, bao gồm các chi phí: bồi thường do tổn thất về tinh thần và cấp dưỡng cho 03
- 4 -
người con chưa thành niên của bị hại, ngoài ra không yêu cầu bồi thường các khoảng chi phí nào khác.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Phụng và chị Phan Thị Kim Cương là Luật sư Huỳnh Thị Quỳnh Hoa trình bày: Thống nhất nội dung bản cáo trạng mà Viện kiển sát truy tố cũng như bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Về trách nhiệm dân sự thống nhất theo yêu cầu của đại diện người bị hại, không ý kiến gì thêm.
Tại phiên tòa, bị cáo T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và thống nhất liên đới cùng Công ty cổ phần Việt Hồng bồi thường theo yêu cầu của đại diện hợp pháp của bị hại, thống nhất 20.000.000đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng là để bồi thường theo yêu cầu của đại diện hợp pháp của bị hại.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm đại diện theo ủy quyền của Doanh nghiệp tư nhân Hưng Thạnh trình bày: xe ô tô biển kiểm soát: 66A - 003.22, nhãn hiệu TOYOTA, số loại FORTUNER, màu trắng, dung tích xi lanh 2.694 cm3, số máy: 7145701, số khung: 4B9013054 chủ sở hữu là Doanh nghiệp tư nhân Hưng Thạnh (Chủ Doanh nghiệp là ông Phạm Văn Tâm) và đã giao cho Công ty cổ phần Việt Hồng quản lý, sử dụng từ ngày 06-6-2020. Do đó, mọi trách nhiệm bồi thường về dân sự do Công ty cổ phần Việt Hồng hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Công ty cổ phần Việt Hồng là ông Phạm Văn Tuấn, chức vụ giám đốc Công ty thống nhất chịu trách nhiệm bồi thường về dân sự mà xe ô tô biển kiểm soát: 66A - 003.22 gặp tai nạn. Thừa nhận, thống nhất đã bồi thường xong số tiền 82.000.000đồng là chi phí mai táng cho bị hại và tiền bồi thường hư hỏng xe mô tô 3 bánh. Thống nhất liên đới cùng bị cáo T bồi thường 280.000.000đồng, gồm: chi phí bồi thường do tổn thất về tinh thần và thống nhất cấp dưỡng một lần cho 03 người con chưa thành niên của bị hại. Ngoài ra, không yêu cầu bị cáo T bồi thường giá trị phần hư hỏng của chiếc xe ô tô biển kiểm soát: 66A - 003.22, đối với bảo hiểm trách nhiệm dân sự thì đã thỏa thuận với Công ty Bảo Việt Đồng Tháp, không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
Khi luận tội, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; tình tiết tăng nặng: không; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 và áp dụng Điều 65 của Bộ luật
- 5 -
hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 02 năm đến 03 năm.
* Về vật chứng: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Tòa án tuyên trả lại 01 xe ô tô biển kiểm soát: 66A - 003.22, nhãn hiệu TOYOTA, số loại FORTUNER, màu trắng, dung tích xi lanh 2.694 cm3, số máy: 7145701, số khung: 4B9013054 cho Doanh nghiệp tư nhân Hưng Thạnh (Chủ Doanh nghiệp là ông Phạm Văn Tâm); trả lại cho đại diện hợp pháp của bị hại 01 xe mô tô 3 bánh, biển kiểm soát: 60Y2 - 0469, nhãn hiệu YINXIANG, màu xanh, dung tích xi lanh 175 cm3.
* Về trách nhiệm dân sự: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa đại diện người bị hại với bị cáo T và Công ty cổ phần Việt Hồng.
Tại phần tranh luận: bị cáo T thừa nhận hành vi phạm tội như Viện kiểm sát luận tội, trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt; đại diện hợp pháp của bị hại, đại diện theo ủy quyền của Doanh nghiệp tư nhân Hưng Thạnh và đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần Việt Hồng thống nhất theo lời luận tội của đại diện viện kiểm sát và thống nhất thỏa thuận bồi thường thiệt hại; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Phụng và chị Phan Thị Kim Cương là Luật sư Huỳnh Thị Quỳnh Hoa thống nhất về trách nhiệm bồi thường mà đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề tài xế đối với bị cáo T trong khoảng thời gian nhất định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính pháp lý của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Hồng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Từ khi khởi tố vụ án cho đến tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong thời hạn chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử Viện kiểm sát cung cấp bổ sung chứng cứ, nội dung: đại diện của Công ty Bảo Việt Đồng Tháp và đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Văn Tâm - chủ Doanh nghiệp tư nhân Hưng
- 6 -
Thạnh là ông Phạm Văn Tuấn thống nhất thỏa thuận trách nhiệm bồi thường dân sự đối với xe ô tô biển kiểm soát 66A - 003.22, nhãn hiệu TOYOTA, số loại FORTUNER, màu trắng, dung tích xi lanh 2.694 cm3, số máy: 7145701, số khung: 4B9013054 theo giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô đề ngày 21-11-2019 và không yêu cầu Tòa án đưa Công ty Bảo Việt Đồng Tháp tham gia tố tụng trong vụ án này do đó Tòa án không đưa Công ty Bảo Việt Đồng Tháp tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Về nội dung: bị cáo T thừa nhận khi xe bị cáo điều khiển chạy đến đoạn đường cong (đường cua) thuộc ấp An Thọ, xã An Phước, huyện Tân Hồng thì từ khoảng cách khoảng 20 mét, T nhìn thấy xe mô tô 3 bánh biển kiểm soát: 60Y2 - 0469 do anh Nguyễn Văn Long điều khiển đang chạy từ trong tuyến đường nhựa (không tên) ra đường ĐT 842, khi xe anh Long đã nhập làn (xe đã vào đường ĐT 842) thì T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát: 66A - 003.22 chạy vượt lên dẫn đến va chạm vào phía sau bên trái của xe mô tô 3 bánh do anh Long điều khiển đang chạy cùng chiều, làm cả hai xe lao xuống vực phía bên phải theo chiều đi. Hậu quả: anh Long tử vong tại chỗ là phù hợp với các lời khai của người làm chứng, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông ngày 06-7-2020. Đồng thời, phù hợp với bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 213/TTh-TTPY ngày 06-07-2020 của Trung tâm Pháp y - Sở y tế tỉnh Đồng Tháp kết luận nguyên nhân tử vong của anh Nguyễn Văn Long do: vỡ đốt sống cổ C1-C2, đứt tủy sống/TNGT và bản kết luận về việc định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Hồng.
Như vậy, hành vi của bị cáo đã gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, điều khiển xe khi đến đọan đường cong, có biển báo giao thông đường bộ nguy hiểm, chổ ngoặc nguy hiểm vòng bên trái nhưng không giảm tốc độ, điều khiển xe ô tô vượt xe mô tô 3 bánh cùng chiều không đảm bảo an toàn vi phạm vào khoản 1 Điều 9 và khoản 2, điểm a, c, d khoản 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ.
“Điều 9. Quy tắc chung
1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”.
“Điều 14. Vượt xe
1. …
2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải.
- 7 -
...
5. Không được vượt xe khi có một trong các trường hợp sau đây:
a) Không bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này;
…
c) Đường vòng, đầu dốc và các vị trí có tầm nhìn hạn chế;
d) Nơi đường giao nhau, …;
…”
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo T phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự mà Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp đối với bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội.
Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
…”.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: bị cáo T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đồng thời, cũng cần xem xét nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo là xuất phát từ lỗi vô ý và bị cáo có nhân thân tốt.
Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mà áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện và áp dụng hình phạt bổ sung cấm bị cáo làm công việc nhất định cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đại diện hợp pháp của bị hại đã bồi thường thiệt hại xong trong thời gian Hội đồng xét xử nghị án. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Đối với 20.000.000đồng của bị cáo T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng theo biên lai thu số AN/2010/007210 ngày 16-10-2020 là dùng để bồi thường thiệt hại và đại diện hợp pháp của bị hại thống nhất nhận, Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự tự nguyện thỏa thuận, không trái quy định pháp luật và
- 8 -
đạo đức xã hội. Vì vậy, đại diện hợp pháp của bị hại được quyền liên hệ để nhận.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, cụ thể: 01 xe ô tô biển kiểm soát: 66A - 003.22, nhãn hiệu TOYOTA, số loại FORTUNER, màu trắng, dung tích xi lanh 2.694 cm3, số máy: 7145701, số khung: 4B9013054 chủ sở hữu là Doanh nghiệp tư nhân Hưng Thạnh (Chủ Doanh nghiệp là ông Phạm Văn Tâm). Hội đồng xét xử xét thấy trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
Đối với 01 xe mô tô 3 bánh, biển kiểm soát: 60Y2 - 0469, nhãn hiệu YINXIANG, màu xanh, dung tích xi lanh 175 cm3. Hội đồng xét xử xét thấy trả lại cho người đại diện hợp pháp của bị hại là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (Một) năm tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân phường An Bình A, thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn Tới thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Căn cứ vào khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Cấm bị cáo Nguyễn Văn T làm công việc lái xe ô tô (bao gồm xe ô tô chở người và xe ô tô tải) trong thời hạn 02 (hai) năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Đại diện hợp pháp của bị hại (chị Phan Thị Kim Cương) được quyền liên hệ Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng nhận 20.000.000đồng theo biên lai thu số AN/2010/007210 ngày 16-10-2020.
4. Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- 9 -
Trả lại cho Doanh nghiệp tư nhân Hưng Thạnh (Chủ Doanh nghiệp là ông Phạm Văn Tâm) 01 xe ô tô biển kiểm soát: 66A - 003.22, nhãn hiệu TOYOTA, số loại FORTUNER, màu trắng, dung tích xi lanh 2.694 cm3, số máy: 7145701, số khung: 4B9013054.
Trả lại cho những người đại diện hợp pháp của bị hại (chị Phan Thị Kim Cương) 01 xe mô tô 3 bánh, biển kiểm soát: 60Y2 - 0469, nhãn hiệu YINXIANG, màu xanh, dung tích xi lanh 175 cm3.
(Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10-11-2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Hồng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng).
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28-01-2021).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện Tân Hồng; - Công an huyện Tân Hồng; - Chi cục THADS huyện Tân Hồng; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. - 10 - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Cư |